Vaca NNP -> Tiểu Sử Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Bạn thân mến,

Tháng 4 đen là một tháng thật buồn cho người Việt tỵ nạn Cộng Sản đã lìa bỏ quê hương ra đi.
48 năm đã trôi qua nhưng vẫn mang theo 48 tháng tư đen. Khi thời gian vần còn ghi trên quyển lịch mỗi năm thì ngày 30/4 vẫn là ngày đau thương của chúng ta.

Những ngày khói lửa của tháng 4, bom đạn, tan hoang, chết chóc, kinh hoàng, sợ hãi và chia ly sẽ không bao giờ vén lên được bức màn đen của lịch sử cho dù mặt trời vẫn mọc từ phía đông mỗi ngày.

Những người không cầm súng đã để lại tất cả kỷ niệm, cuộc đời và hạnh phúc của mình ở trên mảnh đất yêu thương gọi là quê hương mà không biết bao giờ được trở về. Họ đã bỏ hết để ra đi và không hối tiếc.

Những người đã từng cầm súng chống giặc để bảo vệ chính nghĩa của tự do và sự toàn vẹn của đất nước, đã phải vội vã chia tay với các đồng đội và chiến hữu để ra đi nhằm tránh khỏi sự trả thù của quân Cộng Sản khi chiếm được miền Nam, một kẻ thù không bao giờ biết hai chữ thương xót là gì, sẵn sàng hành hạ và trả thù đối phương cho những tuyên truyền họ gọi là nợ máu, những điều được nhồi sọ, lừa dối và che dấu của chế độ CS miền Bắc nhét vào trong trí óc của quân lính Cộng Sản khi đi xâm chiếm miền Nam.

Họ không có hai chữ “chính nghĩa ” về cuộc chiến xâm lăng này, hai chữ đó vô nghĩa với họ bởi lời tuyên bố chính thức của Lê Duân về chiến tranh Việt Nam là

” Đánh Mỹ là đánh cho Trung Quốc Liên Xô” chứ không phải cho ” tự do – độc lập – hạnh phúc của người dân Việt Nam, Bắc và Nam.”

Trong khi hai chữ ” Chính Nghĩa ” về cuộc chiến tranh tự vệ của miền Nam đã giúp cho quốc gia VNCH được tồn tại, sống sót và phát triển trong 21 năm từ 1954-1975 để chống lại quân xâm lăng CS Bắc Việt thì cũng tương tự như vậy, hai chữ ” chính nghĩa” đã giúp quốc gia Ukraine dưới sự lãnh đạo của tổng thống Zelensky đã giữ vững được đất nước Ukrainr không bị nước Nga xâm chiếm hơn một năm qua kể từ 24 tháng 2 năm 2022, một cuộc xâm lăng cả ngàn tấn bom đạn hỏa tiễn đã tàn phá dữ dội và giết chóc cả trăm ngàn người chỉ trong vòng hơn một năm.

Sự khác biệt to lớn của hai chữ ” chính nghĩa ‘ là ở chỗ phải có vũ khí đạn dược đầy đủ và tối tân để chống đỡ thì mới đứng vững được.

Đau đớn thay, VNCH không có một tổng thống Zelensky kiên cường mà là một tổng thống Dương Văn Minh hèn nhát, chính nghĩa của VNCH không còn đạn dược vũ khí để giữ nước và chống kẻ xâm lăng thì lấy gì để đánh giặc?

Nhìn lại cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Cộng Sản Bắc Việt, nó còn lớn hơn cả cuộc tấn công 1975, bên cạnh sự trợ giúp yểm trợ hữu hiệu của quân đội Hoa Kỳ, quân lực VNCH dù với vũ khí đạn dược thô sơ Carbin, Garrant còn thua vũ khí của Cộng Sản AK47 nhưng nhờ tinh thần yêu nước và với chính nghĩa, chúng ta đã đẩy lui và đập tan cuộc tổng tấn công đó.

Cuộc chiến cuối cùng 1975, miền Nam đã mất đi cả hai yếu tố không giống như cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân của Cộng Sản:

– mất sự yểm trợ hỏa lực của Hoa Kỳ
– súng ống thì còn, đạn dược thì hết kể cả xăng nhớt cho chiến trường.

Tại sao vậy?

Lịch sử giữ nước và mất nước của VNCH hôm nay không còn là điều gì khó hiểu và bí mật nữa. Nó đã được phân tích và bạch hóa bởi các nhà bình luận, các sử gia và các chính trị gia trên thế giới và cả Hoa Kỳ, ngay cả những người Mỹ trực tiếp dính tới cuộc chiến tranh như cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, cựu thống tướng Westmoreland….

Đi tìm lý do tại sao cũng không quay lại được bánh xe của lịch sử nhưng sụ thực của lịch sử không thể nào bị bóp méo hay diễn dịch sai được.

Hãy để bánh xe cho nó tiếp tục quay nhưng phải dán những bức hình, những câu chuyện và những thước phim của lịch sử VNCH lên trên đó bởi nó là một phần lịch sử của dân tộc Việt Nam mà không ai có thể ngụy tạo ra những lừa dối hay tuyên truyền láo xạo ngoại trừ chính những người dân tỵ nạn cộng sản của miền Nam và những người lính cầm súng của chính thể VNCH chống kẻ xâm lược Cộng sản Bắc Việt.

Mỗi người dân và mỗi người lính đều có những thước phim, những tấm hình và những câu chuyện của cuộc đời không giống nhau và ở mỗi góc độ khác nhau không nhiều thì ít.

Hãy ngưng bánh xe lịch sử của tháng 4 đen mỗi năm để tưởng niệm và tri ân những hy sinh xương máu của người lính đã phải bỏ súng vì hết đạn, đã chết trong các trại tù cải tạo của cộng sản hay bị giết bởi trả thù, để tưởng nhớ những người dân đã chết trên con đường đi tìm tự do cho mình, chết một mình hay chết với vợ, với chồng, với gia đình và con cái, trên biển cả, trong rừng sâu, chết đói, chết khát, chết bởi cướp biển và mất xác.

Xin mời đọc một mẩu chuyện của đời lính, một mẩu chuyện có một tâm tư cuối cùng thật cảm động làm tôi muốn khóc và không nghĩ rằng phần đầu và phần cuối lại có thể thuộc về cuộc đời của cùng một người phi công.

Tôi tin rằng không phải chỉ có một câu chuyện như vậy xẩy ra trong chiến tranh Việt Nam mà vẫn còn rất nhiều thước phim khác của người lính VNCH đã sống, đã trải qua và đã mang theo không bao giờ quên hoặc đã được ghi đâu đó hay chưa bao giờ được kể lại.

Bánh xe lịch sử của VNCH là của chúng ta, người dân VNCH chứ không phải là của người Cộng sản Việt Nam.

Chúng ta sẽ viết lên lịch sử chứ không để cho người nào khác viết thay, dù là người Cộng Sản Việt Nam hay bất kỳ người nào khác.

NNP

Tiểu Sử Trường Sơn Lê Xuân Nhị

P1000375.JPG

Trường Sơn Lê Xuân Nhị tên thật là Lê Xuân Nhị, sinh năm 1951 tại Ban Mê Thuột, một thành phố nằm trên lưng dãy Trường Sơn ở Cao Nguyên Trung Phần Việt Nam. Sau khi thi đậu tú tài bán phần năm 1968, yêu thích cuộc đời giang hồ của lính nên đã tình nguyện gia nhập trường Bộ Binh Thủ Đức.

Tốt nghiệp trường Bộ Binh Thủ Đức, vì Không Quân bành trướng mạnh và nhu cầu đòi hỏi, ông được đưa tuyển sang Không Quân và sau một thời gian 2 năm dài học Anh Ngữ và học bay, trở thành phi công lái máy bay thám sát L-19, tốt nghiệp khóa 39 Hoa Tiêu Quan Sát tại trường phi hànhNha Trang.
Sau khi ra trường, ông phục vụ tại Phi Đoàn 114, Không Đoàn 62 Chiến Thuật, Sư Đoàn 2 KQ Nha Trang. Khu vực làm việc của Phi Đoàn 114 bao gồm từ Quãng Đức phía Nam cho đến Qui Nhơn phía Bắc và quan trọng nhất, sâu vào phía Tây Bắc của vùng 2 chiến thuật là khu vực tam biên Pleiku. Đây là nơi mà nhiều trận đánh nổi tiếng đã xảy ra vào mùa Xuân-Hè năm 1972 (báo chí còn gọi là Mùa Hè Đỏ Lửa) và năm 1972 khi Bắc Quân đem 3 sư đoàn xâm nhập và mưu toan cắt Việt Nam làm 2 khúc.
Là một phi công lái máy bay trinh sát và hướng dẫn khu trục, Lê Xuân Nhị làm việc với tất cả những đơn vị bộ binh ở đó như Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Sở Liên Lạc Nha Kỹ Thuật, và các đơn vị biệt động quân ở vùng II. 4 năm lăn lộn trong bầu trời đầy dẫy lửa đạn này, ông học hỏi được nhiều điều. Ông tâm sự “Điều tôi học được nhiều nhất trong khoảng thời gian nhọc nhằn này là tình bằng hữu anh em. Trong khói lửa và cơ cực và nghèo đói, anh em chúng tôi dựa vào nhau để sống và để chiến đấu. Chúng tôi an ủi lẫn nhau, bênh vực lẫn nhau, làm cho nhau cười để ráng sống và ráng coi thường những cam go cùng bất hạnh của cuộc chiến.” Cũng nhờ những phi vụ yểm trợ này ông có một khái niệm tổng quát về cuộc chiến, học hỏi được nhiều kinh nghiệm về các trận đánh và dùng những kinh nghiệm này sau này để viết những câu truyện ngắn thật là cảm động về cuộc chiến đấu cô đơn, anh dũng và bi hùng của người lính QLVNCH.
Ông sang Mỹ năm 1975, hiện cư ngụ tại hai thành phố New Orleans (tiểu bang Louisiana) và San Jose (California), Hoa Kỳ. Trường Sơn Lê Xuân Nhị say mê văn chương hồi còn học trung học và kể từ năm 1967, ở lớp Đệ Tam đã gởi vài truyện ngắn đầu tay cho các tờ báo. Nhưng vì những tác phẩm này không hề được đăng báo, ông chán nản bỏ bút. Theo lời ông kể, ngày ông bỏ bút lúc còn trẻ là ngày buồn nhất đời ông. Ông tâm sự: “Hồi đó, tôi thấy cái cõi văn chương sao nó thật là gần gũi mà thật là xa vời. Nó nằm ngay trước mặt mình mỗi ngày, trong những trang báo, trong những cuốn sách bán đầy ngoài tiệm, nhưng muốn bước vào cõi đó thì khó như người bước vào cõi tiên.”
Khi sang Mỹ năm 1975, uất hận vì cuộc thua trận vô lý và nhục nhã của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, mỗi năm vào dịp kỷ niệm mất nước 30-4, ông thường viết những bài viết ngắn bằng tiếng Anh để đăng lên mục “Ý kiến bạn đọc” (Your opinion) của tờ nhật báo duy nhất The Times Picayune của thành phố New Orleans, vạch ra những sai lầm và bất công mà nhân dân và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà phải gánh chịu trong suốt cuộc chiến.
Thường thường, những bài viết chỉ trích như vậy rất ít khi được đăng, nhưng hầu hết những bài viết của Trường Sơn Lê Xuân Nhị đều được tờ báo Mỹ địa phương đăng tải sau khi sửa đổi vài chi tiết phụ không quan trọng. Những bài viết này được một số người Việt Nam địa phương để ý, cho nên, khi hội ái hữu Không Quân tại Louisiana quyết định làm tờ đặc san năm 1989, ông được anh em mời cộng tác.
Thế là, sau 22 năm bỏ bút, ở lứa tuổi 40, Trường Sơn Lê Xuân Nhị cầm bút lên trở lại với đoản thiên đầu tiên viết về anh em và phi đoàn mình, Phi Đoàn 114. Bài viết làm cho chính tác giả và nhiều người rơi lệ. Được anh em khuyến khích, ông viết thêm vài truyện ngắn về lính, và cũng được khen ngợi. Nhiều người đọc xong đã khóc ròng.
Được khuyến khích, ông viết thử bộ truyện dài “Xếp Al Capone” là một cuốn truyện viết về bọn mafia ở Chicago mà sau đó trở thành bộ trường thiên, viết trong 5 năm, gồm 5 cuốn tổng cộng 2000 trang tất cả với một số chữ là một triệu chữ. Đây là một trong những bộ sách bán chạy nhất hải ngoại với nhiều lần tái bản.
Sau cuốn Xếp Al Capone, Trường Sơn Lê Xuân Nhị viết tiếp Phát Súng Ân Tình gồm 10 cuốn (2 triệu chữ) cũng được độc giả khắp thế giới say mê theo dõi. Bộ sách được tái bản cho đến ngày hôm nay (năm 2001) là 6 lần tất cả.
Ông hiện là một chuyên viên về điện toán (Computer Specialist) cho chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ tại thành phố New Orleans. Hỏi về cách làm việc, ông cho biết là ông đi ngủ rất sớm rồi thức giấc vào lúc 2, hoặc 3 giờ sáng là cái khoảng thời gian yên tĩnh nhất rồi viết cho đến khi đi làm. Hiện ông đang viết một cuốn truyện dài thuộc loại xã hội đen khác về nghiệp đoàn lao động Hoa Kỳ và đồng thời sắp hoàn thành một tác phẩm bằng Anh Ngữ, viết về chiến tranh Việt Nam.

Thank you.

Phil Nguyen

https://freedom-vaca.org/vaca-main-blog/

Discover more from Vietnamese-American Conservative Alliance (VACA)

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading