Bạn thân mến,
Bạn thân mến,
Tôi ở bên Lào về Saigon từ năm 5,6 tuổi và đã lớn lên với Saigon tư thủa ” hoang sơ” cho đến năm 1982 thì mới bỏ xứ ly hương.
Saigon thủa hoang sơ vì dân số ít, nhà cửa và phố xá cũng vắng vẻ, người không đông, đường xá đèn đêm thì lù mù tăm tối. Chỉ trừ những khu vực trung tâm buôn bán hay nhà cửa to lớn như vùng chợ Bến thành, đường Catinat hay Trần Hưng Đạo, chợ Cũ, đường Đồng Khánh trong Chợ Lớn, có một bộ mặt thật sự của thủ đô VNCH, tấp nập và sầm uất.
Ở khu Bàn Cờ, nơi gia đình tôi định cư, đã có ngã 3 đường Cao Thắng và con đường Phan Thanh Giản, gần đó có nhà thương Bịnh Dân nhưng bên kia đường Phan thanh Giản lúc đó là ao hồ và đầm lầy, không ai ở và cũng không có ruộng nương vườn tược cầy cấy.
Thời đó, không có con đường Trần Quốc Toản, viện Hóa Đạo hay trại gia binh gì cả.
Tôi và đám con nít bạn bè thường rủ nhau chạy qua bên đó để tắm ao lội nước.
Con đường Cao Thắng còn có tên Tây là đường Audouit( Ô đui).
Từ chợ Bến Thành, gọi xe xích lô và kêu về nhà lầu 5 tầng đường Ô Dui thì không bao giờ bị lạc cả vì cả thành phố ai cũng biết là về khu Bàn Cờ có nhà lầu 5 tầng.
Từ 1952 tới năm 1982, 30 năm ở đây, lớn lên, đi ngang dọc, lên xuống và qua lại thành phố cho tới ngoại ô, cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Chữ Y, cầu Nhị Thiên Đường, Lăng Ông và chợ Bà Chiểu, hồ tắm Chi Lăng, đều có vết chân của tôi nhưng riêng về một nơi, hôm nay vào năm 2024, tình cờ được xem một video clip phóng sự về nó, tôi giật mình và không biết rằng ở Saigon ngày xưa trước năm 1975, đã có những túp nhà sàn èo ọt trên sông lạch, những đường đi bằng ván lót chênh vênh, những ngõ ngách qua lại chỉ đủ cho một người ốm yếu bước tới mà không thể nào quay người đi ngược lại mà phải đi lùi từng bước một trở lui hay không?
Những người dân ở đó cho biết họ đã cắm dùi cả 30 năm trời. Như vậy, xóm làng này cũng mới xuất hiện sau 1975 nghĩa là trước đó, không ai phải dựng nhà sàn trên mương lạch để sống.
Nhìn chung quanh, toàn là ván vách chắp vá cao thấp, có thể gọi đó là vách ngăn được chứ không thể có tên là bức tường được bởi nó chỉ cao lưng chừng không vượt quá đầu người chứ nói chi đụng tới trần nhà.
Vách ngăn đó chỉ là một lằn ranh để chia đôi, chia ba, chia bốn cái sàn nhà ra cho mọi người được cảm thấy một chút không gian riêng tư của mình, riêng tư đến độ chỉ đủ cho một người có một chỗ để ngủ qua đêm mà thôi, không bàn không ghế, không cửa sổ, không giường chiếu TV, nhìn có khác chi một phòng giam ở tù mà chỉ khác là không có song sắt hay bị canh gác.
Phòng giam còn có cầu tiêu chứ nơi này, không còn một thước đất để xây cầu xí.
Không những thế, cuộc đời của người dân sống ở đây được nối với thế giới bên ngoài chỉ bằng những chiếc thang nhỏ ngằn ngủi 5,7 bậc mỏng manh lên xuống mỗi ngày hay bằng ngõ ngách nhỏ hẹp quanh co vòng vẹo.
Nhìn lên trần nhà là những tấm tôn lợp mái sét rỉ và nối ráp sát nhau liên tục đến nỗi đứng ở ngoài cửa nhìn vào, không có đủ ánh sáng để thấy được cảnh vật và người ở phía trong vì ánh sáng mặt trời và ngày cũng như đêm không có một khe hở để len vào nơi đó.
Có được một tí nắng ấm hay một chút gió thoảng thổi qua thì thật là hạnh phúc nhưng chính những khe hở của cuộc đời đó sẽ là tai họa giật sập hạnh phúc của họ bằng những trận mưa rào ào ạt đổ xuống vào mùa mưa.
Đường phố to lớn hiện tại còn trở thành những ao hồ mênh mông và dòng nước lũ chảy xiết sau mỗi cơn mưa lớn chứ với những căn nhà sàn ốm yếu này mà hở nóc thì chỉ còn là khách sạn ngàn sao sau mỗi cơn mưa.
Hạnh phúc duy nhất của con người sống ở đây là dược nói tới hai chữ ” nhà tui” khi được hỏi “nhà ai vậy?”
Mặt đất giờ là những tấm sàn gỗ rung rinh ọp ẹp, đường vào ra là những miếng ván nhỏ ghép hở miệng trông mục nát, ngày cũng như đêm chỉ thấy nhau bằng những ngọn đèn điện mở 24 tiếng suốt đời, trời đất không có chỗ để con người hít thở, để mơ mộng và hưởng thụ đời sống tự nhiên, để biết có một buổi sáng ban mai đang qua, để có một buổi trưa hè oi ả không còn chỗ hóng gió, để có chiều đến không biết từ lúc nào và để có đêm mới về nhưng tưởng như đã quá nửa khuya.
Thế cũng chưa đủ để nói về cuộc sống của những người nghèo khổ đang sống đùm bọc lấy nhau nới đấy, có già, có trẻ, có vợ, có chồng, có con, có cái bởi những mùi xông hôi thối và ngẹt thở của rác rưởi, của nước lạch nhiễm độc đen ngòm, của cặn bã của con ngươi, của nước tiểu phân người đổ xuống từ hàng trăm căn nhà sàn ven lạch và của tắc nghẽn thiên nhiên đến độ nước cũng không còn tìm thấy đường để trôi đi.
Mặt đất là những tấm ván chênh vênh èo uột, trên trời là những tấm tôn rỉ sét tuổi không biết bao nhiêu tuổi, dưới đất là hôi thối rác rưởi không còn đường thoát thân.
Thiên la địa võng như thế thì con người làm sao sống có hạnh phúc và nghĩ đến được ngày mai?
Cuộc đời của họ chỉ có hôm nay và bây giờ. Ngày mai và tương lai là chuyện xa lạ và vô nghĩa, không có trong tâm tư của họ.
Thế nhưng sao họ vẫn cười, vẫn dửng dưng dù rằng vẫn nghèo khổ.
Sinh ra ở đó, lớn lên thì cũng ở đó và có lẽ chết cũng ở tại nơi này mà thôi.
Người đàn bà trẻ có một đứa con trai chừng 1 tuổi vẫn chăm sóc và yêu thương con trong thế giới khổ hạnh của mình, chỉ có một sự thiếu thốn là vắng một người chồng. Khi được hỏi đến, người đàn bà đó chẳng có dấu vết gì đau khổ và ai oán khi thẳng thừng nói ra cho biết người chồng đã phạm tội chơi thuốc và bị bỏ tù.
Cho nên, nỗi vắng bóng đó không có nghĩa gì đối với mình và cũng không đem thêm nỗi sầu đau lớn lào gì cho mẹ con chị ngoài căn chòi đang ở.
Căn nhà sàn cũ nát dựng trên những cái cọc nhớp nhúa ốm yếu đóng xuồng một giòng kinh lạch hôi thối mới là nỗi đau khổ lớn nhất của mình chứ không phải vắng một ngươi chồng.
Khi đứa con bị bệnh hô hấp vì hen suyễn, cũng phải đưa đi bác sĩ chẩn bệnh và cuối cùng, đã mang về một túi thuốc chữa trị cho con bằng đồng tiền từ thiện của người xa lạ thương yêu giúp đỡ chứ không đủ tiền để sống nói chi tới tiền mua thuốc cho con.
Có biết đâu rằng chính những hôi thối rác rưởi dưới kinh lạch đã gây ra bệnh hoạn cho trẻ thơ.
Mà có biết thì làm được gì bây giờ?
Một thành phố cả chục triệu người ngày đêm buôn bán không ngủ, ăn chơi và hưởng thụ trong các phố xá đèn đuốc sáng trưng, nhà hàng ca hát ầm ĩ từ những nhà lầu 5,7, chục tầng với các cửa hàng sang trọng, đầy người bán và người mua mặc đồ đẹp đẽ ra vô nhưng ở bên cạnh đó, có một thế giới nhỏ nhoi với những mảnh đời đã bị tách ra khỏi phố đi bộ, tách ra khỏi hotel 5 sao, tách ra khỏi xã hội đang tự quay cuồng sinh sồng, kiếm tiền, tranh dành nhau ngày đêm để sinh tồn và hưởng thụ, không còn ai có thì giờ nhớ đến những rác tưởi hôi thối đang đọng lại từng tầng, từng lớp ở một con lạch dài 9km với chừng 800 gia đình sinh sống, hít thở cặn bã của xã hội và của bệnh hoạn suốt 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày, một nơi đang bị lãng quên ngay trên bản đồ của thành phố mang tên là TPHCM chứ không phải Saigon, một giòng nước đen có cái tên gọi là rạch Xuyên Tâm nhưng những con người ở đó chỉ là bóng mờ, không tên, không giấy tờ, không căn cước và đời sống không được nhắc tới trong sổ bộ của thành phố.
Những bóng mờ đó sống ngay giữa của thành phố trong 3,40 năm dài cho tới hiện giờ năm 2024.
Tên gọi là Rạch Xuyên Tâm, rạch xuyên qua trái tim của người đang ở đó, nghe đau thương thật nhưng chắc chưa đủ mạnh và to để kêu cứu mọi người ở nơi khác đoái hoài tới những người không căn cước và vô phước này.
Nếu vậy, sao không đổi tên gọi rạch Xuyên Tâm thành rạch Vô Tâm cho nó hợp với tình nghĩa của những người sống ở ngoài con kinh đen hôi hám này?
20 năm lên kế hoạch nạo vét thay đổi mà sao nó vẫn hôi thối mãi vậy?
XHCN, xã hội chủ nghĩa đâu không thấy mà chỉ nghe dân nghèo than là Xạo Hết Chỗ Nói.
Không phải chỉ có dân nghèo kêu thôi mà ngay chính “đồng chí” phe ta cũng còn phải nói:
NNP
🇻🇳 Khu Ổ Chuột Rác Thải Lớn Nhất Sài Gòn • Rạch Xuyên Tâm
|













