Đây chính là công nghệ quan trọng nhất
tại Olympic
Nhiều môn thể thao quan trọng tại Olympic sẽ không
thể nào tổ chức được nếu thiếu đi công nghệ bấm giờ
rất chuẩn xác của hãng đồng hồ Omega.
Tại kỳ Olympic đầu tiên trên Thế Giới năm 1896, vận
động viên Spyridon Louis người Hy Lạp đã chiến thắng
bộ môn marathon với thời gian 2 giờ 58 phút 50 giây.
Sau khi trọng tài cho khởi động, chiếc đồng hồ bấm giờ
được gắn lên xe đạp rồi chạy trước Louis để ghi nhận
kết quả.
Cho đến trước Olympic London 1948, việc quan sát và
bấm đồng hồ đều do con người thực hiện. Tuy nhiên,
may mắn là công nghệ tính thời gian tại Olympic đã
có nhiều bước tiến bộ vượt bậc trong thế kỷ 20.
Cách phân định thắng thua thủ công ở môn điền kinh tại Olympic 1932
Ngày nay, con người không cần phải sử dụng đến những
cách thủ công như dùng một sợi dây kéo ngang vạch
về đích để phân định kết quả. Thay vào đó, máy đếm
giờ lượng tử (Quantum Timer) đã có thể đo thời gian
chính xác đến 1/1.000.000 giây.
"Trọng tài" công bằng nhất tại mỗi kỳ Olympic
Năm 2008, ở nội dung chung kết 100 m bơi bướm nam,
màn so tài giữa huyền thoại Michael Phelps và Milorad
Cavic đã kết thúc với cách biệt chỉ bằng một cái chớp
mắt.
Chẳng hạn như Phelps giành HCV thứ 7 nhờ thành tích
50,58 giây so với con số 50,59 của đối thủ.
Thậm chí khi được phỏng vấn, kình ngư người Mỹ đả
thừa nhận nếu chỉ nhìn bằng mất thường, thì Cavic mới
là người về đích trước.

Công nghệ hình ảnh xác định Phelps giành HCV ở nội dung chung kết 100 m bơi bướm nam tại Thế vận hội 2008.
Nếu không có một tổ hợp công nghệ rất tinh vi có thể ghi
lại với tốc độ 100 khung hình mỗi giây, những cuộc tranh
tài ở các môn thể thao tốc độ như bơi lội hay điền kinh
sẽ khó có thể tổ chức tốt đẹp.
Hãng đồng hồ Omega của Thụy Sĩ đã có lần xuất hiện
thứ 29 tại Thế vận hội
Ít ai hiểu rõ về tầm quan trọng của thời gian như Alain
Zobrist, CEO của Swiss Timing. Swiss Timing cùng với
Omega thuộc quyền của The Swatch Group.
Zobrist là người chịu trách nhiệm bảo đảm các thiết bị
đo thời gian cung cấp con số chính xác nhất trong Thế
vận hội.
Chính sự theo đuổi sự hoàn hảo này đã gắn kết Omega
với Thế vận hội trong nhiều năm và tạo ra một mối hợp
tác liên kết kéo dài gần một thế kỷ.
Hãng đồng hồ Omega của Thụy Sĩ cung cấp đồng hồ bấm
giờ thủ công cho Olympic từ năm 1932.
Tại Olympic London 1948, hệ thống camera Magic Eye
được áp dụng để xác định vận động viên về đích và ngừng
đồng hồ.
Cách đếm giờ thủ công vẫn được sử dụng trong 20 năm
tiếp theo. Mexico 1968 là kỳ Olympic đầu tiên hoàn toàn
áp dụng hệ thống đếm giờ điện tử.
Tuy nhiên, khoảng 45 đồng hồ bấm giờ thủ công vẫn được chuyển đến hầu đề phòng hệ thống gặp trục trặc bất ngờ
xảy ra .
Olympic Paris 2024 đánh dấu lần thứ 30 mà Omega trở
thành đồng hành liên kết tính giờ chính thức của Thế vận
hội. Sự liên kết đồng hành này bao gồm việc sử dụng
các thiết bị phức tạp, cảm biến, máy ảnh, hệ thống định
vị cũng như vô số các dụng cụ tối tân khác.

Đồng hồ đếm số vòng bơi hoàn thành.
Theo đại diện của Swiss Timing, toàn bộ phát minh đều
được phát triển và thử nghiệm trong nhiều năm. "Đối với
bất kỳ thiết bị mới nào, quá trình phát triển có thể mất
nhiều năm.
Toàn bộ những công nghệ trong hệ thống tính giờ ở môn bơi
Nó bắt đầu trong phòng thí nghiệm và trải qua nhiều vòng
thử nghiệm. Trước khi được sử dụng, công nghệ mới phải
có sự chấp thuận nghiêm ngặt từ các tổ chức thể thao
riêng lẻ", Zobrist nói.
Công nghệ định hình Olympic
Việc tính toán thời gian trong thể thao đỉnh cao yêu cầu
mức độ chính xác rất cao,đặc biệt là trong bối cảnh thành
tích của VĐV ngày càng được đổi mới.
Điều này cũng khiến Omega phải liên tục đổi mới công
nghệ đếm giờ để tăng độ chính xác.
Tại Olympic London 2012, hãng này giới thiệu máy đếm
giờ lượng tử (Quantum Timer) có thể đo thời gian chính
xác đến 1/1.000.000 giây.
Hệ thống đếm giờ của Omega tại Olympic được kết nối
với camera Scan’O’Vision Myria, với khả năng chụp
10.000 hình ảnh/giây rồi gửi về ban giám sát để kiểm
tra xem ai về đích trước.
Tại Paris, sẽ có 329 sự kiện với 32 môn thể thao khác
nhau. Mỗi sự kiện đều đòi hỏi công nghệ và kiến thức
riêng.
“Thách thức lớn nhất của việc tính thời gian cho Thế vận
hội Olympic là số lượng lớn các sự kiện và môn thể thao
khác nhau. Các môn thể thao mới được thêm vào ở mỗi
kỳ tổ chức, vì vậy công việc vẫn tiếp tục phát triển”, CEO
của Swiss Timing nhận định.
Ngoài các thiết bị chụp ảnh kết thúc, Zobrist và nhóm
của ông cũng làm việc với các thiết bị kiểm soát khâu
khởi hành.
Omega sẽ quan sát các VĐV thi đấu bằng một công
nghệ có tên gọi"Pose Detection" từng tư thế chuyển động
Việc phát giác lỗi sai khi khởi hành cũng là một khía cạnh
thiết yếu trong các môn thể thao tốc độ. Chẳng hạn,
trong điền kinh, hệ thống của Omega đồng bộ với súng
ra hiệu khởi hành, cảm biến gắn trên bàn đạp để phát
giác ra vận động viên phạm luật nếu chạy sớm hơn
0,1 giây trước khi súng được bắn.

Súng ra hiệu khởi động, camera đồng bộ với hệ thống
đếm giờ lượng tử của Omega được sử dụng tại các kỳ
Olympic.
Không chỉ đếm giờ, công nghệ thị giác máy tính cũng là
một đổi mới công nghệ được Omega đem đến các kỳ
Thế vận hội gần đây.
Theo Zobrist, đội ngũ Omega đã khởi động quá trình
nghiên cứu từ năm 2012 với mục đích phục vụ nhiều
môn thể thao khác nhau.
Với môn bóng chuyền bãi biển, AI được dùng để nhận
biết động tác đánh và chuyền, phân tích hướng bay
của bóng.
Kết hợp với dữ liệu từ con quay hồi chuyển gắn trong
trang phục của vận động viên, AI còn có thể đưa ra
hướng chuyển động, độ cao bước nhảy và tốc độ di
chuyển. Sau khi giải quyết, thông tin được truyền đến
bộ phận kỹ thuật để hiển thị trên truyền hình.

Trong môn thể dục dụng cụ, AI của Omega được áp
dụng để kiểm tra độ chính xác của động tác. Trong môn
bơi lội, công nghệ nhận diện hình ảnh có tác dụng đếm
số lần sải chân của vận động viên, đo tốc độ và khoảng
cách giữa các đối thủ.
Với môn đạp xe, cảm biến chuyển động được gắn trên
khung xe để tính giờ khởi hành và về đích.
Không chỉ có thể xác định chính xác thời điểm thắng
hay thua của một sự kiện, những dữ liệu này còn là một
cách tuyệt vời để các VĐV và đội ngũ BHL phân tích
thành tích của họ.










