Chương Trình “Những Điều Trông Thấy”
với cựu Đại Úy Nguyễn Thị Bé Bảy
Anh Huy phụ trách
trên Đài Phát Thanh Sàigòn- Dallas, làn sóng 1160 AM
lúc 3:30pm – 4:00 pm (Giờ Miền Đông)
Friday April 25, 2025
1. Hòa đàm Ukraine – Nga ???
Sky News đưa tin, Ngoại Trưởng Anh, Pháp, Đức, Ukraine đã hoãn cuộc họp dự kiến vào ngày 23/4 tại London sau khi Ngoại trưởng Mỹ Marco Rubio quyết định không đến London mà cử Đặc phái viên Keith Kellogg.
Washington Post cho rằng, điều này báo hiệu sự giảm sút trong ưu tiên đàm phán của Mỹ. Hiện không rõ liệu sự vắng mặt của ông Rubio có nghĩa là Mỹ đã hạ thấp kỳ vọng vào các cuộc đàm phán hay không.
Báo New York Times cho biết, lý do hủy chuyến thăm của ông Rubio và ông Witkoff được cho là bắt nguồn từ tuyên bố của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky hôm 22/4 rằng ông bác bỏ khả năng công nhận bán đảo Crimea là lãnh thổ của Nga vì điều này trái với hiến pháp Ukraine. Theo cô nhận xét hòa đàm Ukraine-Nga.
Đáp:
Trước hết, xin nói đến một tin tức quan trọng hiện nay là Đức Giáo Hoàng Francis đã tạ thế sau ngày Lễ Phục Sinh. Tang lễ sẽ bắt đầu vào ngày Thứ Bảy 26/4/2025 tại Vatican và kéo dài trong 9 ngày.
Nguyện xin Thiên Chúa đón ngài về cõi Thiên Đàng. Amen!
Trở lại câu hỏi,
Nếu đôi bên không nhượng bộ thì hòa đàm sẽ không diễn ra.
TT Trump cũng đã ngỏ ý rằng, ông sẽ để cho đôi bên làm theo ý nguyện của họ nếu muốn tiếp tục cuộc chiến, và Hoa Kỳ sẽ đứng qua một bên, không can thiệp.
Về tình trạng của bán đảo Crimea, bán đảo này có một lịch sử phức tạp. Crimea là một lãnh thổ độc lập dưới quyền Hãn Quốc Krym. Người Tatar Krym theo Hồi Giáo nằm dưới ảnh hưởng của Đế Quốc Ottoman, nhưng lãnh thổ này giáp giới với Đế Quốc Nga. Năm 1774, sau Chiến Tranh Nga- Thổ Nhĩ Kỳ 1768-1775, Đế Quốc Nga và Ottoman đồng ý không can thiệp vào Hãn Quốc Krym thông qua một hiệp ước. Năm 1783, Đế Quốc Ottoman ngày càng suy tàn, Đế Quốc Nga chiếm lấy Krym, và theo dòng biến đổi lịch sử, Crimea trở thành một nước “cộng hòa tự trị” sau đó trỏ thành một tỉnh của Liên Bang Xô Viết vào ngày 30 tháng 6 năm 1945.
Vào ngày 19 tháng 2 năm 1954, tỉnh này được chuyển từ Cộng Hòa Xã Hội Liên Bang Xô Viết sang thẩm quyền của Cộng Hòa Xã Hội Ukraine dựa trên “đặc điểm thích hợp của nền kinh tế, sự gần gũi về lãnh thổ và mối quan hệ kinh tế và văn hóa chặt chẽ giữa tỉnh Crimea và Cộng Hòa Xã Hội Ukraine” và để kỷ niệm 300 năm thống nhất Ukraine với Nga.
Vào tháng 2 và tháng 3 năm 2014, Nga xâm chiếm Crimea, lợi dụng sự lật đổ Tổng Thống Ukraine Viktor Yanukovych vào ngày 22 tháng 2 năm 2014 làm dấy lên làn sóng biểu tình ủng hộ Nga từ ngày 23 tháng 2 chống lại chính phủ Ukraine sắp hình thành. Tổng Thống Nga Putin thảo luận tình hình Ukraine với các quan chức an ninh và quyết định “chúng ta phải nỗ lực thu hồi Crimea về cho Nga”. Vào ngày 27 tháng 2, quân đội Nga chiếm được các địa điểm chiến lược trên khắp Crimea, tiếp theo là thành lập chính phủ Aksyonov thân Nga, mở cuộc trưng cầu dân ý tuyên bố Crimea độc lập vào ngày 16 tháng 3 năm 2014, và Nga chính thức sáp nhập Crimea vào ngày 18 tháng 3 năm 2014.
Lúc ấy, Ukraine và nhiều quốc gia khác lên án việc sáp nhập, cho đây là vi phạm luật pháp quốc tế và vi phạm các thỏa thuận của Nga bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine.
Việc sáp nhập khiến các thành viên của G8 loại Nga ra khỏi nhóm và áp đặt các lệnh trừng phạt. Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc bác bỏ cuộc trưng cầu dân ý và việc sáp nhập, thông qua một Nghị Quyết khẳng định “sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine và gọi hành động của Nga là “sự chiếm đóng tạm thời”.
Chính phủ Nga phản đối ngôn từ “sáp nhập”, Putin khẳng định cuộc trưng cầu dân ý là tuân thủ nguyên tắc “quyền tự quyết” của các dân tộc.
Bây giờ TT Ukraine đòi lại Crimea, xem ra đây là một chuyện dài không hồi kết.
Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế, vấn đề ở đây là 1) Nga có khả năng theo đuổi cuộc chiến này trong bao lâu. khi giá năng lượng đang giảm và sẽ còn giảm xuống nữa dưới thời TT Trump, trong khi Nga phụ thuộc phần lớn vào tiền kiếm được từ việc bán năng lượng cho Liên Âu với giá cao để chi cho cuộc chiến? 2) Liệu Liên Âu hoặc NATO có thể viện trợ cho Ukraine bao nhiêu và trong bao lâu để kéo dài cuộc chiến, nếu Hoa Kỳ đứng ra ngoài?
Rất khó đoán về một thỏa thuận hòa bình cho Ukraine.
2. Cuộc chiến thuế quan Hoa Kỳ- Trung Cộng
Ngày 23-4, Bộ Trưởng Tài Chính Mỹ Scott Bessent cho biết Mỹ “đang có cơ hội đạt được thỏa thuận lớn với Trung Cộng”, nhưng lưu ý Washington vẫn chưa đàm phán với Bắc Kinh về thuế quan. Liên quan đến mức thuế đối ứng của Tổng Thống Donald Trump, Bộ Trưởng Bessent cho biết ông tin rằng mức thuế quá cao giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ phải được giảm xuống trước khi các cuộc đàm phán thương mại có thể tiếp tục.
Theo các nguồn tin của Wall Street Journal, Bạch Ốc đang xem xét cắt giảm thuế đối ứng đối với hàng hóa Trung Quốc, có thể lên đến 50% trong một số trường hợp, nhằm hạ nhiệt căng thẳng với Bắc Kinh. Theo cô có phải ông Trump giơ cao, đánh khẽ hay không? Theo cô nghĩ Trung Cộng có nhượng bộ hay không?
Đáp:
Đây là giai đoạn đôi bên đang trao đổi “chiêu thức”, nên chưa thể kết luận bất cứ điều gì!
TT Trump là một người không dể cho đối phương đoán được ông nghĩ gì, và sẽ làm gì trong bước kế tiếp, chỉ là phải đợi ông ra đòn mà thôi. Trong khi hiện nay Trung Cộng đang chịu áp lực nội tại rất lớn với lượng hàng hóa đang ứ đọng tại các nhà kho, với các thùng chứa hàng cũng đang nằm ụ tại các hải cảng Hoa Lục. với hàng triệu người thất nghiệp khi các hãng xưởng ngoại quốc lần lượt rời khỏi nơi đây. Ngoài ra, các tàu chở hàng của Trung Cộng bị TT Trump tăng lệ phí rất cao khi cập các bến cảng Hoa Kỳ.
Vế ngoại giao, chuyến thăm Việt Nam, Mã Lai và Cam Bốt của Tập Cận Bình và chuyến đi Úc của Vương Nghị để tìm đồng minh chống lại thuế quan của Hoa Kỳ hình như không đem lại kết quả, Vương Nghị cũng đang tìm đồng minh ở Anh Quốc và Liên Âu để gọi là chống thuế quan của Mỹ chắc cũng sẽ không mấy khả quan.
Vì ngày hôm qua, 24/4 TT Trump đã tiếp đón Thủ Tướng Na Uy đên Bạch Ốc để đàm phán song phương về vấn đế thuế quan. Đây là nhà lãnh đạo thứ hai của Liên Âu đến Bạch Ốc sau bà Thủ Tướng Ý. Trong lúc đó đã có 12 quốc gia chính thức gởi bản đề nghị đàm phán đến Bạch Ốc và nhiều quốc gia khác cũng đang liên lạc về vấn đề này trong thời gian 90 ngày tạm ngưng việc áp thuế quan của TT Trump.
Phó TT JD Vance và phu nhân cũng đã đến Ấn Độ để gặp Thủ Tướng Ấn về vấn đề thuế quan và công bằng mậu dịch. Chuyến đi được mô tả là thân thiện vì phu nhân Phó TT Vance là người gốc Ấn.
Có thể nói, trong cuộc chiến thuế quan và cân bằng thương mại hiện nay, Trung Cộng trong quá khứ đã gieo nhân nào, thì bây giờ đang gặt quả nấy.
Cái nhân đó, là lòng tham vô đáy!
Khi các hãng xưởng Hoa Kỳ và các quốc gia khác đến Hoa Lục để sản xuất những sản phẩm của họ, đã giúp Trung Cộng trở thành một công xưởng sản xuất hàng hóa đủ mọi thứ cho cả thế giới, khiến nền kinh tế tại Hoa Lục phát triển, hàng trăm triệu dân chúng có công ăn việc làm. Từ đấy, một hiệu ứng dây chuyền làm bùng phát các dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông, địa ốc, du lịch v. v… làm biến đổi nền kinh tế Trung Cộng từ một nước nghèo, một quốc gia kém mở mang trở thành cường quốc kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ.
Trong quá trình phát triển này, Trung Cộng đã không bỏ lở lợi thế và không bỏ qua bất cứ cơ hội nào để bắt chẹt các đối tác làm ăn, mà quan trọng nhất là bắt buộc họ phải chuyển nhượng kỹ thuật tối tân, ăn cướp các sản phẩm trí tuệ, và làm hàng giả, hàng nhái, thu về lợi nhuận vô cùng to lớn.
Nến kinh tế phát đạt đã thúc đẩy Trung Cộng phát triển ưu thế quân sự, khiến các lãnh đạo Trung Cộng càng ngày càng hống hách, hiếp đáp những quốc gia láng giềng yếu thế như Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Phi Luật Tân, chiếm lấy Biển Đông, làm mưa làm gió, với tham vọng sẽ vượt mặt Hoa Kỳ, khuynh đảo và đứng đầu thế giới. Vào năm 2015, Tập Cận Bình đã huênh hoang công bố dự án Made in China 2025, mà nếu thành công, tham vọng khuynh đảo và đứng đầu thế giới sẽ trở thành hiện thực.
Những tưởng thế giới sẽ bó tay, vì ngay cả Hoa Kỳ trong mấy thập niên qua cũng đã không có một hành động nào để kiềm chế sự lấn lướt của Trung Cộng, chỉ nói riêng về thuế quan và thâm thủng thương mại, cho tới khi ông Trump đắc cử TT. Tuy chưa làm được nhiều trong nhiệm kỳ 1 và bị gián đoạn 4 năm dưới nhiệm kỳ của ông Biden, nhưng trong nhiệm kỳ 2, TT Trump đã có hành động quyết liệt đối với Trung Cộng.
Hiện nay, như đã nói, là giai đoạn đôi bên trao đổi chiêu thức, và chúng ta hy vọng TT Trump sẽ chấm dứt tình trạng Hoa Kỳ chịu thiệt thòi về thuế quan và thâm thủng thương mại, không những chỉ đối với Trung Cộng, mà còn chấm dứt tình trạng Hoa Kỳ là một con bò sữa bị cả thế giới vắt cho đến lúc nào đó thì cũng phải cạn kiệt và tắt thở.
Tạm kết, có lẽ vì say men chiến thắng trong hàng chục năm qua, những người lãnh đạo Trung Cộng đã quên mất một thực trạng là, nền kinh tế của họ sở dĩ phát triển là hoàn toàn nhờ vào, nói rõ hơn là hoàn toàn phụ thuộc vào sự đầu tư sản xuất của các công ty và hãng xưởng nước ngoài, và một khi những công ty hãng xưởng ấy rút đi thì nền kinh tế ấy sẽ sụp đổ một cách nhanh chóng!
Cũng có thể họ suy bụng ta ra bụng người, do lòng tham không đáy, các công ty hãng xưởng ngoại quốc một khi đã thu được những mối lợi khổng lồ nhờ vào lương công nhân rẻ mạt và thị trường to lớn với 1 tỷ 400 triệu người, họ sẽ không bao giờ rời khỏi Hoa Lục. Tuy nhiên, làm sao biết được lại xuất hiện một ông Trump không giống ai! Đòn thuế quan do ông đánh ra đã làm đảo lộn hết những tính toán của Bắc Kinh, các hãng xưởng, các công ty Hoa Kỳ và các quốc gia khác vì áp lực thuế quan đã phải rời bỏ Hoa Lục như chúng ta đang chứng kiến, khiến cho Bắc Kinh trở tay không kịp.
3. Việt Cộng và vũng lầy bẫy nợ của Trung Cộng
Chính quyền Tổng Thống Donald Trump đã yêu cầu các nhà ngoại giao cấp cao của Mỹ tại Việt Nam không tham gia các sự kiện kỷ niệm 50 năm kết thúc chiến tranh. Đây là ngày kết thúc của cuộc chiến mà Việt Nam gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước.”. Ví dụ, vào tháng 9/2023, trong tiệc chiêu đãi Tổng thống Mỹ Joe Biden khi ông thăm cấp nhà nước tới Việt Nam, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đã có bài phát biểu “nhấn mạnh sự phát triển của quan hệ hai nước, từ cựu thù trở thành Đối Tác Chiến Lược Toàn Diện, cho rằng đây thực sự là hình mẫu trong lịch sử quan hệ quốc tế về hàn gắn và xây dựng quan hệ sau chiến tranh.
Nhưng với cuộc chiến trong quá khứ, về phía Việt Nam, mỗi khi tới lễ kỷ niệm 30/4, những diễn ngôn về “cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” và “lên án tội ác” của Mỹ lại tràn ngập trên các mặt báo. Theo cô lời yêu cầu của TT Trump mang một ý nghĩa như thế nào?
Đáp:
Đây là câu trả lời cụ thế nhất cho những người chỉ trích, chửi rủa TT Trump
đã bắt tay với VC.
Phải nói rằng, chính phủ Trump đã nhìn thấy rõ, Trung Cộng đã xử dụng Việt Nam là một trạm trung chuyển hàng hóa từ Hoa Lục đến Hoa Kỳ để tránh thuế quan, và cái gọi là Đối Tác Chiến Lược Toàn Diện do Biden ký kết với CS Việt Nam vào năm 2023 đang được Trung Cộng khai thác và lợi dụng triệt để.
Vì vậy TT Trump đã triệt tiêu mánh khóe này với những mức áp thuế lên những mặt hàng chẳng những có xuất xứ từ Trung Cộng mà còn áp thuế lên những mặt hàng có nguyên liệu của Trung Cộng, cho dù chúng có dán cái nhãn Made in Vietnam thì cũng vô dụng mà thôi.
Về phía CSVN luôn mồm kêu gọi hòa giải, nhưng thực tế thì là con số KHÔNG to tướng. Cứ mỗi 30 tháng tư, nhà cầm quyền VC lại khơi dậy vết thương của người dân miền Nam và quậy cho nó sâu thêm, thay vì hàn gắn.
Năm nay, VC lại mời quân Trung Cộng qua trong cuộc diễn binh. Cũng phải thôi! Đây chính là lời minh xác cuộc xâm lăng VNCH của VC sẽ không thành công nếu không có viện trợ, đúng hơn là vay nợ của Trung Cộng, để bây giờ phải trả nợ với sự chuyển nhượng các đặc khu kinh tế và thần phục những đòi hỏi của Bắc Kinh, mà trường hợp gần nhất là phải vâng lời Trung Cộng thực hiện tuyến đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng.
Sau 50 năm chiếm được Miền Nam, CS Việt Nam ngày càng lún sâu vào vũng lầy ” Bắc Thuộc”.
Muốn biết rõ thực chất của vấn đề, xin mời đọc bài viết của Việt Nam Thời Báo sau đây:
(trích)
(VNTB) – Việt Nam sẽ vừa vay vốn của Trung Cộng vừa mời Trung Cộng sang xây dựng tuyến đường sắt, đây không chỉ là bẫy nợ, mà còn là sự thông đồng để “rửa hàng” cho Trung Cộng tuồn vào Mỹ.
Ngày 15/4 Tô Lâm và Phạm Minh Chính đã dự lễ khởi động cơ chế hợp tác đường sắt Việt Nam -Trung Quốc. Trước đó, ngày 14/4, Trung Cộng và CSVN đã nhất trí tăng cường hợp tác thực chất trên các lĩnh vực, thành lập ủy ban hợp tác đường sắt giữa hai chính phủ để thúc đẩy hợp tác đường sắt.
Tô Lâm cũng có đề nghị Tập Cận Bình thúc đẩy kết nối hạ tầng giao thông chiến lược, dành những ưu đãi tốt nhất về vốn vay ưu đãi, chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực, để bảo đảm tiến độ dự án tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.
Điều này có nghĩa là Việt Nam sẽ vừa vay vốn của Trung Cộng vừa mời Trung Cộng sang xây dựng tuyến đường sắt này.
Có hai vấn đề cần nói ở đây, là bẫy nợ và việc “rửa hàng” cho Trung Cộng tuồn vào Mỹ.
Người dân Việt Nam có lẽ chưa quên bài học cay đắng từ tuyến đường sắt Cát Linh – Hà Đông. Một dự án “hợp tác hữu nghị” nhưng kéo dài gần cả thập niên, đội vốn lên gần gấp nhiều lần, phẩm chất vận hành bấp bênh, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và kỹ sư Trung Cộng. Chưa kể khoản vay khổng lồ kèm theo những điều kiện ngặt nghèo, khiến chúng ta không khác gì con nợ bị siết cổ bằng chính sợi dây mình tự buộc.
Hay bài học từ tuyến đường sắt cao tốc Lào -Trung. Công trình được khởi công năm 2016, hoạt động từ tháng 10/2021 với hợp đồng ban đầu trị giá 1,2 tỷ USD, sau đó tăng lên 6 tỷ USD.
Lào, một quốc gia nhỏ bé, bị mê hoặc bởi lời hứa phát triển, chấp nhận vay vốn khổng lồ từ Trung Quốc để rồi rơi vào cảnh lỗ nặng, ít khách, không có khả năng trả nợ, và cuối cùng phải chấp nhận bàn giao những phần tài sản công để trừ nợ. Và Lào không phải là ngoại lệ. Hàng chục quốc gia khác, từ châu Phi tới Nam Á, đang dở khóc dở cười vì những “dự án hợp tác” với Trung Cộng – một mô hình đầu tư chỉ thấy lợi cho bên “cho vay”.
Vậy tại sao Việt Nam, một quốc gia đã có đầy đủ bài học từ quá khứ vẫn tiếp tục đặt cược vào một dự án không rõ hiệu quả, và lại đi vay nợ từ chính quốc gia đang vướng vào hàng loạt tranh cãi về “bẫy nợ” khắp toàn cầu?
Hãy nhìn vào thực tế, tuyến đường sắt này về bản chất là con đường huyết mạch giúp Trung Cộng đưa hàng hóa từ vùng Tây Nam ra cảng Hải Phòng, rồi xuất khẩu đi khắp thế giới. Đây không phải là chiến lược hạ tầng của Việt Nam, mà là một phần trong chiến lược xuất khẩu toàn cầu của Trung Cộng. Vấn đề là, từ Lào Cai, Việt Nam có gì để xuất khẩu ngược trở lại? Bao nhiêu phần trăm hàng hóa sẽ là hàng Việt Nam? Hay tuyến đường này chỉ là một “ống dẫn” hàng Trung Quốc đi xuyên qua Việt Nam để lách luật rồi tuồn qua Mỹ và phương Tây?
CSVN thì lập luận rằng đây là cơ hội để cải thiện hạ tầng, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng Tây Bắc. Nhưng phải hiểu rằng phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào việc đào đường, xây đường sắt để vận chuyển hàng hóa cho nước khác. Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt nguy cơ phải chịu mức thuế suất khủng khiếp lên đến 46% khi xuất hàng sang Mỹ. Nghĩa là, hàng Việt đang bị siết chặt vì nghi ngờ có sự gian lận thương mại, có dấu hiệu thay đổi xuất xứ từ Trung Quốc.
Đang bị áp lực tăng thuế, mà còn ráng xây thêm tuyến đường sắt để làm công cụ giúp hàng hóa Trung Quốc “hóa kiếp” thành hàng Việt, rồi từ cảng Hải Phòng đi khắp thế giới dưới cái mác “Made in Vietnam”. Vậy chắc chắn Việt Nam không chỉ gánh thêm món nợ khổng lồ, mà còn bị tổn hại nghiêm trọng về uy tín thương mại quốc tế, nguy cơ bị trừng phạt thêm từ các thị trường lớn như Mỹ, EU là rất rõ ràng.
Tuyến đường sắt Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng, nếu nhìn từ góc độ kinh tế quốc gia, không phải là một nhu cầu cấp thiết vào lúc này. Thứ Việt Nam đang cần không phải là con đường để vận chuyển hàng Trung Quốc, mà là hệ sinh thái công nghiệp, công nghệ, đổi mới sáng tạo, và chính sách bảo vệ hàng Việt. Chúng ta cần đầu tư vào con người, vào công nghệ, vào giáo dục, chứ không phải là cắm đầu ký vay thêm nợ, để rồi 5 năm sau lại kêu lỗ, kêu vướng mắc công nghệ, và lệ thuộc toàn diện vào nhà thầu ngoại quốc.
Phải nhớ rằng bất kỳ sự hợp tác nào với Trung Cộng trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng đều cần có cái đầu lạnh và tinh thần cảnh giác cao độ. Trung Cộng chưa bao giờ cho không ai thứ gì. Những dự án “hợp tác” về bản chất là những công cụ để mở rộng ảnh hưởng địa chính trị, để kiểm soát hạ tầng và buộc các nước phải phục tùng bằng gánh nặng nợ nần.
Không ai phản đối phát triển hạ tầng. Nhưng phát triển phải dựa trên lợi ích quốc gia, dựa vào nhu cầu thực tế và khả năng nội lực. Đừng nhân danh “hợp tác”, “hữu nghị” để che đậy một thương vụ đầy rủi ro, mà hệ quả có thể kéo dài cả thế hệ sau. Việt Nam không thể và không cần phải trở thành “cửa ngõ” cho hàng hóa Trung Quốc đội lốt xuất xứ, để rồi rước lấy rủi ro chính trị, thương mại và nợ nần triền miên. Bài học từ Lào, từ Sri Lanka, từ Kenya, và chính từ Cát Linh – Hà Đông… vẫn còn nóng hổi.
(ngưng trích)










