Dđ TuoiHac -> BÀI SỐ 6 Bắc Ninh đến Kỳ Dương Vương

From: Trung Linh <trunglinh846>

Date: Sat, Apr 4, 2026 at 16:39

From: Xuan Quang Nguyen <bacsinguyenxuanquang>
Date: Sat, Apr 4, 2026 at 3:26 PM
Subject: BÀI SỐ 6 BẮC NINH ĐỀN KÌ DƯƠNG VƯƠNG..
To: <ngxuanquang>

MỜI ĐỌC
BÀI SỐ 6: BẮC NINH ĐỀN KÌ DUONG VƯƠNG (I).

https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/2026/04/04/nhung-neo-duong-oai-linh-hoa-gam-viet-nam-6-bac-ninh-den-kinh-duong-vuong-vua-thuy-to-nguoi-vie

VIỆT NAM: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG OAI LINH, HOA GẤM (6), BẮC NINH: ĐỀN KINH DƯƠNG VƯƠNG, VUA THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT (phần I.)

NHỮNG NẺO ĐƯỜNG OAI LINH, HOA GẤM VIỆT NAM

Nguyễn Xuân Quang.

(Bài 6).

6. BẮC NINH

ĐỀN KINH DƯƠNG VƯƠNG: VUA THỦY TỔ NGƯỜI VIỆT (phần I.)

clip_image002

Cổng tam quan Đền Kinh Dương Vương.

Đền thờ Kinh Dương Vương hiện nay nằm ở hữu ngạn sông Đuống, thuộc thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh…

clip_image004

Đền thờ Kinh Dương Vương (ảnh của tác giả).

Tổng quát đền giống như ngôi đình cổ có kiến trúc cũng mang ý nghĩa vũ trụ tạo sinh, vũ trụ giáo của các kiến trúc thờ phượng thế giới theo vũ trụ giáo hay bị ảnh hưởng của vũ trụ giáo.

Trong đền, ba bộ ngai thờ đặt ở hậu cung, ngai thờ Kinh Dương Vương đặt ở ban giữa, ngai thờ Lạc Long Quân đặt ở gian phải (mang tính dương, nam) và ngai thờ Âu Cơ đặt ở gian trái (âm, nữ). Tất cả đều được chạm khắc và sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Kinh Dương Vương

Kinh Dương Vương nhũ danh Lộc Tục là vị thủy tổ trong truyền thuyết của dân tộc Việt Nam, được xem là người sáng lập ra nước đầu tiên Xích Quỷ.

Ông là con trai Đế Minh, là cha của Lạc Long Quân và là ông nội của các vua Hùng.

Ngai thờ Vua Thủy Tổ Kinh Dương Vương (ảnh của tác giả).

Rất tiếc hình tôi chụp phần chỏm đầu của tấm bài vị không rõ. Xin mượn một hình của VOV.VN

Chỏm bài vị có hình mặt trời 10 tia sáng hình lưỡi lửa thái dương diễn đạt mặt trời rạng ngời thế gian Li Kinh Dương Vương-Khảm Thần Long.

Vương miện có hai mặt trời rực sáng. Phải chăng mặt trời ở trên lớn hơn diễn đạt mặt trời Đế Minh đội lốt thần tổ mặt trời Viêm Đế cõi đại vũ trụ. Còn mặt trời nhỏ ở dưới diễn đạt mặt trời tổ thế gian tiểu vũ trụ Kinh Dương Vương?

Hai bên có hai vật trông giống hai chiếc sừng hươu. Bên trong có hình rồng. Đúng ra phải là hình Hươu Đực Lộc Tục.

Long Nữ Thần Long

Theo truyền thuyết cho biết vợ của Kinh Dương Vương là bà Thần Long hay Long nữ, con gái Long vương Động Đình Quân ở thủy cung.

clip_image010

Ban thờ Quốc Mẫu (ảnh của tác giả).

Thờ Long Nữ Thần Long, vợ của Kinh Dương Vương. Trên ngai có bài vị mầu đen, mầu của nước âm. Không có hình mặt trời thế gian dòng Kinh Kì Dương Vương nhưng có hình Thần Long.

Kinh Dương Vương có nhũ danh là Lộc Tục có bản thể là con Hươu Đục, Hươu Đực (xem dưới) có mạng Núi-Đất dương, Lửa thế gian thiếu dương Li (1). Như thế Thần Long phải có bản thể là Nước thế gian thiếu âm Khảm. Vì thế bà mới có tên là Thần Long hay Long Nữ ở dưới thủy phủ (cõi nước âm) con của Long Vương Động Đình Quân. Đúng như Lĩnh Nam chích quái nói Kinh Dương Vương ”có nhiều phép lạ, có thể đi lại trên trời và dưới nước được”, cũng vì “có tài đi dưới thủy phủ” nên Kinh Dương Vương xuống cõi nước lấy Thần Long, Long nữ, con gái Long Vương Động Đình Quân ở hồ Động Đình.

Kinh Dương Vương có mạng núi, đất dương, núi trụ thế gian, trục thế giới, lửa thiếu dương Li nên lấy Long Nữ, Thần Long có mạng nước thiếu âm Khảm, con gái của Long Vương ở thủy cung là vậy. Đây là dạng hôn phối, lưỡng hợp nòng nọc, âm dương giữa đất lửa Li (IOI: dương I thiếu dương OI) với nước trời (hơi nước) Khảm (OIO: âm O thiếu âm IO) tức dạng lưỡng hợp tiểu vũ trụ, thế gian (thiếu là tiểu).

Lạc Long Quân

Kinh Dương Vương-Thần Long sinh ra Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân mang cốt Rắn (hóa rồng).

Quốc tổ Lạc Việt Lạc Long Quân (ảnh của tác giả).

Chỏm tấm bài vị có hình mặt trời thế gian dòng Kinh Dương Vương-Thần Long.

Vương miện có hai mặt trời vàng dương thái âm nước. mặt trời ở trên có thể biểu tượng thần mặt trời Thần Nông ngành âm và mặt trời dưới biểu tượng Lạc Long Quân. Hai hình giống như hai tai thỏ mang tính dương thái âm dòng nước Lạc Long Quân. Lạc Long Quân Chấn IOO (dương I thái âm OO) là Vua Mặt trời Nước, Mặt trời hoàng hôn Lạc dương, có một khuôn mặt là ông trăng thái dương (mặt trời đêm) thường diễn đạt bằng trăng sừng hay trăng lưỡi liềm.

Thỏ có hai tai như cặp sừng dương thái âm có một khuôn mặt biểu tượng cho trăng dương thái âm (trên mặt trăng có con ngọc thố).

Trong tai có hình hoa mặt trời mang âm tính có 6 cánh. Số 6 là số Tốn OII (âm O thái dương II, một bổn mạng của nữ thái dương Âu Cơ ).

Lạc Long Quân Chấn mặt trời nước hoàng hôn mạng rắn, rồng Lạc Việt lấy Âu Cơ, mặt trời rạng đông, nhật tảo mạng chim Hồng Việt (Ông trăng Lạc Long Quân mà lấy bà giời Âu Cơ, Mồng năm dẫn cưới, mồng mười rước dâu).

Âu Cơ

clip_image016

Tổ Mẫu Âu Cơ Chim Hồng Việt (ảnh của tác giả).

Chỏm bài vị có mặt trời dòng Kinh Dương Vương-Thần Long.

Vương miện hình vòm bán cầu trang trí các cục tròn đỏ vàng như tụ hoa biểu tượng tia sáng nòng âm nữ, với sự hiện diện thêm mặt trời tia sáng cánh hoa âm nữ diễn đạt mặt trời nữ tinh mơ mới nhô lên từ chân trời. Đây là hình ảnh mặt trời nhật tảo của thái dương thần nữ Âu Cơ

(ở đây mầu vàng nấp bóng chồng Lạc Long Quân, đáng lý phải mầu hồng của phái nữ)

Từ đây, các thời đại vua Hùng ra đời.

clip_image020

Cung cấm (ảnh của Michelle Mai Nguyễn).

Rất tiếc cửa khóa không thấy được bên trong. Bốn tấm của cung cấm diễn đạt tứ linh: long, li, qui, phượng.

Lễ hội Kinh Dương Vương

Lễ tổ chức tại đền vào ngày 18 tháng giêng âm lịch.

“Nhớ ngày mười tám tháng Giêng,

Giỗ vua Thủy tổ thiêng liêng nước nhà,

Dù ai xuôi ngược gần xa

Tìm về bái tổ xứng là đạo con”.

Ngày lễ hội này cũng giống như các ngày lễ hội khác trong truyền thuyết và cổ sử Việt đều là những con số mang ý nghĩa số nhị nguyên. Số 18 là số Khảm (OIO) tầng 3 (2, 10, 18), âm, nước O thiếu âm IO, bổn mạng Thần Long, hôn phối với Li, (IOI), dương, lửa I thiếu dương OI, bổn mạng Kinh Dương Vương, theo dạng tiểu vũ trụ, thế gian.

Tháng giêng với số 1 có một nghĩa nhất thể, Càn Khôn, tạo hóa.

Ngày tháng lễ hội mang ý nghĩa kỷ niệm

ngày thành hôn Kinh Dương Vương-Thần Long theo lưỡng hợp Đất-Nước Li Khảm thế gian và diễn đạt khuôn mặt tạo hóa ở cõi thế gian của Kì Dương Vương-Thần Long.

Kinh Dương Vương hay Kì Dương Vương?

Hiện nay cả nước gọi là Kinh Dương Vương. Theo tôi tên gốc là Kì Dương Vương. Vì một lý do nào đó biến đổi Kì thành Kinh. Dựa vào đâu tôi nói như thế? Xin thưa, Kinh và Kì có một nghĩa như nhau thấy qua từ đôi đồng nghĩa kinh kì → kinh = kì, đất tổ của Man tộc là Kinh Man cũng gọi là Kì Man, Châu Kinh cũng gọi là Châu Kì, phụ nữ có kinh = phụ nữ có kì; Mã ngữ gọi con hươu sủa là kingjang (kinh dương) hay kijang (kì dương) (xem dưới). Kì có nghĩa rộng hơn Kinh và mang nghĩa con thú bổn mạng của nhũ danh Lộc Tục của Kinh Dương Vương (xem dưới).

Như thế ta có thể nói Kì thay cho Kinh không có gì trở ngại cả.

Vì vậy tôi dùng từ Kì và Kinh tùy tiện và thích dùng từ Kì Dương Vương thay cho Kinh Dương Vương.

Truyền Thuyết Kì Dương Vương Có Đáng Tin Không?

Truyền thuyết Kinh Dương Vương có đáng tin không hay chỉ là hoang đường, do các nhà nho bịa đặt ra?

Tài liệu lịch sử chính thức gần đây nhất là truyền thuyết Kinh Dương Vương được ghi khắc trên mộc bản thời Nguyễn.

clip_image024

Mộc bản thời Nguyễn ghi khắc lại truyền thuyết Kinh Dương Vương tại Đền Kinh Dương Vương (ảnh của tác giả).

Ta hãy tìm câu trả lời qua sự khảo sát đa ngành.

Kì Dương Vương Nghĩa Là GÌ?

Ta thấy ngay:

  • Vương là vua.

  • Dương có nghĩa là:

-đực, ngược với âm: cái.

-mặt trời.

Kì có những nghĩa sau này:

-kì 1.

cọc, que, cây, trụ, nõ, bộ phận sinh dục nam. Ta thấy rât rõ kì:

~ ki: cây. Kì biến âm với ki có một nghĩa là cây. Nhật Bản ngữ Kanji ki 木 là cây, chính là Hán ngữ mộc, cây.

~ kèo: cọc nhỏ. Từ đôi đồng nghĩa kì kèo → kì = kèo.

~ kè: cọc đóng ở bờ nước, Hán Việt là cừ: đóng kè = đóng cừ.

~ ke (cọc, cặc, nõ, bộ phận sinh dục nam) (Từ Điển Việt Bồ La, Alexandre de Rhodes).

~ que (cọc, cặc), qué (đực, trống: gà qué = gà trống).

~ cò: biến âm với kì:

Cái cò là cái cò kì,

Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô…

Cò biến âm mẹ con với cồ: đực (gà cồ), với cu, (sửng cồ = cứng cò, cứng cu lên), với cọc (cặc).

Qua Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc (xem tác phẩm này)

Việt Dịch Bầu Cua Cá Cọc.

ta đã biết Cọc là con Hươu (trong trò chơi hiện nay gọi là Bầu Cua Cá Cọp mà trên bàn chơi không có con Cọp, chỉ có con Hươu. Vì thế đúng ra phải gọi là Bầu Cua Cá Cọc với Cọc là con Hươu. Con Cọc Hươu đã gọi sai thành con Cọp.

Như thế kì là con Cọc, con hươu Cọc.

-kì 2.

sừng (vật nhọn, cọc nhọn có một nghĩa là sừng). Kì với nghĩa cọc, nọc, que nhọn (xem kì 1.) hàm nghĩa sừng thấy rõ qua từ kì mang là con mang sừng, con hươu sừng (xem dưới).

-kì 3.

con hươu (hươu nọc, hươu cọc, hươu đực). Như đã nói ở trên con cọc, con có cọc nhọn (sừng) là con hươu (đực). Con hươu đực là con cọc, con sừng, thấy rõ qua từ hươu, hưu, hiêu ruột thịt với hèo (que, nọc: nọc ra đánh 30 hèo), với Mường ngữ hẻo (húc bằng sừng) Theo h = k như hết = kết, ta có hươu, hèo, hẻo = kèo (cọc, kì). Ta cũng thấy Hán Việt lộc (hươu) chính là Việt ngữ nọc (L là dạng dương của N) (1). Cũng xin nhắc lại hươu là con cọc, con lộc, con sừng là con đực. Trong khi con nai là con nái, con cái (con cái không có sừng ngoại trừ loài tuần lộc reindeer con cái có sừng) (2).

Kì (hươu) ~ Hán ngữ 麂 kỉ: một loài hoẵng họ hươu.

Kiểm chứng với Ấn-Âu ngữ, kì (ke, que)

với nghĩa sừng ruột thịt với:

~ Thành tố tạo từ Hy Lạp ngữ ker-: sừng (keratine: chất sừng).

~ gốc tái tạo PIE *ker-: sừng, đầu, con thú có sừng, hình sừng, nhô nhú ra như sừng).

~ Phạn ngữ: 1. çṛǹga, çira, a horn, sừng, cứng, 2. saraGga, kind of antelope (một loài sơn dương).

Ta thấy rõ Pháp ngữ cerf: con hươu là con thú có ker-, sừng. Cervidae, loài hươu nai. Anh ngữ hart, con hươu đực = Việt ngữ gạc: sừng (h = g: hóa chồng = góa chồng). Hart hươu đực là hươu gạc, hươu sừng.

-kì 4.

núi, đất dương, vùng đất, thần đất (Hán ngữ 祇 hay示 kì: Thần đất), thế gian, nhân gian, trung thế, trục thế giới. Thấy qua kì: vùng đất (tam kỳ: ba vùng đất Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ); núi Kì có một khuôn mặt là núi trụ thế gian, núi trụ chống trời, biểu tượng thế gian, trung thế.

Đối chiếu với ngôn ngữ thế giới ta thấy:

-Khuôn mặt biểu tượng cho đất dương của hươu kì cũng thấy qua Hán ngữ trần 塵: bụi, trần tục. Giải tự chữ trần có chữ lộc (hươu) trên chữ thổ (bụi là đất dương tung bay lên do con hươu chạy trên mặt đất).

~ Ai Cập cổ Keb, Geb thần núi: kì ~ ke ~ Keb.

~ Sumer ngữ Ki, hay Gi hoặc Kia: đất.

~ Akkadian Semitic kar chỉ ‘town’, thành phố như Assyrian kar.

-Do Thái ngữ kir, kirjah (Brugsch, Egypt Under The Pharaohs, p.200), kibbutz (ki-bút): cộng đồng tập thể nông nghiệp chia sẻ tài sản và nguyên lý bình đẳng.

~Syrian ngữ Qir-Kamosh ‘the town of Kamosh’ (trong Holy Scripture gọi là Karchemish) (Brugsch, p.291).

Lưu ý:Sumer ngữ có nhánh Ấn-Âu ngữ Hittite và Việt ngữ liên hệ với Ấn-Âu ngữ nên Sumer ngữ liên hệ với Việt ngữ.

~ Phạn ngữ: 1. ksiti-, kshi + ti, land, earth, ground: ksi- ~ kì, đất, 2. ksitigarbha: Địa Tạng (xem chữ này), 3, ku, the earth, đất, 4. çṛińga: top of the mountain, horn, sừng, çṛińgin, mountain, núi.

Núi Kì là núi nọc, núi trụ chống trời biểu tượng cho cõi thế gian, dương trần, cho trục vũ trụ thông thương tam thế.

Kì Dương Vương có một khuôn mặt thần núi, thần đất, núi thế gian, núi vũ trụ, trục thế giới thấy rõ qua vị thần núi Kì Mang (Hươu Kì) ở Núi Tản Viên, một hình bóng Núi Vũ Trụ (xem bài viết về Tản Viên trong số blog tương lai).

Kì Dương Vương có một khuôn mặt trục thế giới, trục vũ trụ nên có tài đi lại thông thương tam thế. Vì thế như đã nói ở trên Kì Dương Vương xuống thủy cung lấy được Thần Long.

Đối chiếu với truyền thuyết và cổ sử của các nền văn hóa khác của thế giới ta thấy hươu biểu tượng cho đất thế gian, trung thế thấy rõ ở cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của Maya Trung Mỹ cũng có con nai Ceb biểu tượng cho cõi thế gian trung thế:

Thú biểu nai Ceh biểu tượng cho cõi nhân thế, thế gian trên cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) của Maya (ảnh của tác giả chụp từ tài liệu du lịch).

và ở cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) Yggdrasil của Norse, Bắc Âu.

Cây vũ trụ Yggdrasil Bắc Âu: vòm chỏm cây biểu tượng vòm vũ trụ, vòm thượng thế có chim ưng biểu tượng. Trung thế đất thế gian là những cành ngang có thú biểu là con hươu. Trung thế chia làm ba cõi: vòm biểu tượng bầu trời, cõi trời, núi biểu tượng cõi đất và trục thế giới và con rắn nước bao quanh biển nước thành hình vòng tròn biểu tượng cõi nước. Gốc cây là hạ thế biểu tượng bằng con rắn độc le lưỡi đỏ.

Kì 5.

Hươu, nai là thủy tổ của các sinh vật trong đó có Con Người.

a. Hươu là thủy tổ của muôn thú, thủy tổ loài người theo duy dương.

  • Việt ngữ hươu là thủy tổ của các loài thú thấy rõ ngay hươu là hèo là nõ sinh ra muôn sinh.

  • Hán Việt 獸 thú chỉ chung các loài thú bốn chân, biến âm với Anh ngữ zoo sở thú, thú vật (theo d = th như dư = thừa, ta có zoo /du/ ~ thú). Thú ~ Hy Lạp ngữ thēr, chỉ chung loài thú, thú hoang, theroid: như thú, dạng thú.

-Anh ngữ deer, hươu, nguyên gốc chỉ chung loài thú. Cổ ngữ Anh deor “wild animal, beast, any wild quadruped,” in early Middle English also used of ants and fish (“thú hoang, thú vật, bất cứ loài bốn chân nào”, vào thời đầu Trung Cổ Anh cũng dùng chỉ cả kiến và cá). Theo đ = th, ta có deer = thú.

~ gốc tái tạo PIE dheusom “creature that breathes,” from root dheu- “cloud, breath” (“thú có thở” phát xuất từ gốc dheu- “mây, thở”). Có lẽ phát xuất từ nghĩa từ animal, động vật từ Latin anima “breath”, thở.

~ Azetecan ngữ *te, *tek:, deer (M123).

~ Maya Đông Á ngữ.

Rõ nhất là hươu Kì, hươu Ke- hươu ker- (sừng) chính là con hươu Keh

và cũng là con người đầu tiên trên thế gian theo ngôn ngữ Maya Đông Á của James Churchward đề cập trong The Sacred Symbols of Mu.

Hươu Keh, con người thế gian đầu tiên (James Churchwards,The Children of Mu).

Lưu ý con Hươu Keh chính là con hươu Ceb của Maya, con Cerf của Pháp, con Kẻ, hươu Kì, hươu Cọc, Lộc Tục Kì Dương Vương là con người đầu tiên trên đất thế gian (vì thế mới vẽ đứng trên hai chân trên mặt đất). Hươu Keh ruột thịt với Việt ngữ Kẻ có một nghĩa là Người (kẻ nào đó? = người nào đó; Kẻ Sặt, Kẻ Cau, Kẻ Noi = Người Làng Sặt, Làng cau, Làng Noi).

Chữ T trong hình trên có cây cỏ mọc là: 1. Hình ảnh trục vũ trụ, cây vũ trụ (cây tam thế, cây đời sống) thấy trong văn hóa Maya và cây thánh giá chữ T của Thiên Chúa giáo, 2. gò, mô đất nguyên khởi nhô lên từ biển nước vũ trụ tạo thành cõi đất trung thế.

Trường hợp này cũng thấy trong truyền thuyết sáng thế Ai Cập cổ. Khởi thủy là Biển Vũ Trụ Nun (Ai Cập cổ thuộc ngành nòng âm có mặt trời đĩa tròn không tia sáng nên hư vô cực hóa trước tiên biến thành Biển Vũ Trụ). Thượng đế hay hóa công nhô lên từ Biển Vũ Trụ cùng lúc với gò núi nổi lên gọi là “đồi nguyên khởi” (primeval hill’) hay “gò nguyên khởi” (‘primeval mound’). Ta thấy rõ đồi, gò nguyên khởi ở đây là hình ảnh chữ T trong hình trên.

Ta cũng thấy rất rõ Keh, ruột thịt với Ai Thần Đất Keb Ai Cập cổ.

b. Nai là thủy tổ của muôn thú, thủy tổ loài người theo duy âm.

  • Mường ngữ moong chỉ chung các loài thú ruột thịt với Việt ngữ mang có một nghĩa nai. Việt ngữ mang, mễn chỉ con nai lông vàng, hung đỏ (Huỳnh Tịnh Paulus Của, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị).

Mang có một nghĩa có bầu, có thai mang tính sinh tạo.

-Kì Dương: Mặt Trời Thượng Đỉnh, Chính Ngọ.

Như đã nói ở trên Kì có một nghĩa là trục vũ trụ và kì cũng có nghĩa là dương, cọc (cặc, nõ). Như thế Kì dương có một nghĩa là mặt trời thượng đỉnh, chính ngọ trên trục thế giới, cực sáng, mãnh liệt nhất trong ngày. Vì thế mới là thần tổ của các mặt trời thế gian,là chúa tể, tổ phụ của các vua mặt trời khác như mặt trời mọc, mặt trời lặn…

Mặt trời với khuôn mặt nõ, dương vật, chính ngọ có một khuôn mặt biểu tượng của Kì Dương Vương thấy rõ qua tượng mặt trời có tia sáng nõ, dương vật, tôi chụp tại Bảo Tàng Viện Napoli, Ý dưới đây:

Mặt trời dương vật chính ngọ mang tính Càn cực sáng có một khuôn mặt là mặt trời thượng đỉnh, giữa trưa chói chang Kì Dương Vương (ảnh của tác giả chụp tại Bảo Tàng Viện Napoli, Ý).

Tia sáng ở đỉnh đầu có hình dương vật ở vị trí chính ngọ trên trục thế giới xác thực đây là mặt trời thượng đỉnh (zenith) cực sáng nhất trong ngày. Mặt trời có 7 tia sáng nọc nhọn, số 7 là số Càn, dương thái dương, mặt trời thái dương, cực dương, siêu dương xác thực là mặt trời cực sáng. Đây đích thực là mặt trời chính ngọ, thượng đỉnh Kì Dương Vương.

Nhũ Danh Lộc Tục.

Lộc Tục có thể hiểu theo hai cách: một theo Hán Việt, hai theo Việt ngữ. Thông thường thì “Lộc Tục” hay Lộc Tộc có nghĩa là “Tộc Hươu”. Lộc Tục là Tộc Hươu, là loài Hươu. Đây là hiểu theo Hán Việt. Tuy nhiên ta cũng phải hiểu thêm một cách nữa. Cách này coi tên Lộc Tục là một từ phiên âm ‘nửa vời’, ‘nửa nạc nửa mỡ’ giống như những từ khác trong truyền thuyết và cổ sử Việt. Hán Việt Lộc chính là Việt ngữ Nọc (L là dạng dương của N) (1) và Tục là Việt ngữ Đục, Đực. Lộc Tục là con Nọc, con Cọc, con Hươu Đục, Hươu Đực, Hươu Sừng. Dòng máu sừng, DNA sừng này

của thần mặt trời Viêm Đế Viêm Đế họ Khương (Sừng) ở cõi tạo hóa truyền xuống thế gian cho Kì Dương Vương con thú bốn chân mang gạc, hươu sừng Kì Dương.

Dù hiểu theo cách nào đi nữa, dù dựa vào Hán hay Việt thì Lộc Tục cũng có nghĩa là Con Hươu Nọc, Hươu Việt, thuộc họ Nọc Việt Mặt trời thái dương.

Hươu là Thủy tổ Người Việt.

Thật vắn tắt như đã biết:

-Hươu nai là thủy tổ loài người thì hiển nhiên là thủy tổ người Việt.

-Kì Dương Vương có một khuôn mặt là Hươu mặt trời thủy tổ người Việt thì hiển nhiên hươu là thủy tổ người Việt.

-Như đã nói ở trên Việt ngữ kẻ là hươu và cũng là người.

-Việt ngữ quỉ là người. Ki, Kì, Kẻ ~ quỉ [qu = k ví dụ ké là gà (trói thúc ké = trói ghịt cánh gà) = qué (gà sống: gà qué).

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Tóm lại hươu là thủy tổ muôn sinh trong đó có loài người. Rõ như dưới ánh sáng mặt trời chính ngọ, Kì Dương Vương là thủy tổ của Người Việt. Vì vậy hươu là thú biểu, vật tổ của người Việt, còn thấy nhiều chứng tích trong đa ngành cho thấy người Việt thờ hươu nai từ ngàn xưa.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Kì Dương Vương Vua Thủy Tổ Thế Gian của Người Việt.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Theo truyền thuyết Kinh Dương Vương là vị thủy tổ của dân tộc Việt Nam. Kinh Dương Vương con Đế Minh thay mặt cha cai trị cõi người. Theo truyền thuyết sáng thế Việt Nam có 9 vị thần sáng thế (tương đương với Cửu Thần Ennead hay Pesedjet của Ai Cập cổ, xem bài viết Cửu Thần Ennead Ai Cập) là: Thần tổ Tối cao, Tối thượng là Viêm Đế-Thần Nông (một vị thần nhất thể: một nhân vật duy nhất. Ở ngành dương là Viêm Đế-Thần Nông (Viêm Đế có hiệu là Thần Nông) và ở ngành âm là Thần Nông-Viêm Đế (Thần Nông có hiệu là Viêm Đế), ứng với trứng vũ trụ, thái cực). Theo một truyền thuyết cho Kinh Dương Vương là con của Thần Nông. Đây là nhìn theo dòng nước âm Lạc Việt.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Viêm Đế-Thần Nông sinh ra Ngũ Đế-Tam Vương (nên tổng cộng là 9 vị thần sáng thế, sinh tạo). Ngũ Đế ở cõi đại vũ trụ, tạo hóa. Viêm Đế tách ra thành Đế Viêm (Đế Lửa vũ trụ), Đế Đế (Đế Đá vũ trụ, Thiên thạch). Thần Nông tách ra thành Đế Thần (Đế Nước vũ trụ), Đế Nông (Đế Khí vũ trụ). Tứ đế này ứng với tứ tượng tạo hóa. Đế thứ năm là Đế Minh, Đế Ánh sáng, cháu ba đời thần mặt trời Viêm Đế là một vị đế chuyển tiếp giữa đại vũ trụ tạo hóa và tiểu vũ trụ thế gian. Còn Tam vương là ba vị thần cõi tiểu vũ trụ, thế gian là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương thái tổ. Đế Minh chỉ là gạch nối giữa đại vũ trụ và tiểu vũ trụ, chỉ là một vị thần mang tính tượng trưng, biểu tượng, làm vì hay đã hồi hưu, giữ chức cố vấn như Thái thượng hoàng của Kinh Dương Vương, Tây phương gọi là Deus Otiosus (Latin có một nghĩa là “idle god”: ‘thần rảnh rỗi, thần ngồi chơi… sơi nước’, một vị thần sáng thế sau khi tạo ra thế giới, rút lui, về vườn nhường quyền lại cho các vị thần con. Thần Brahma của Ấn giáo cũng là một deus otiosus). Đế Minh là một deus otiosus vì thế người Việt thờ Kinh Dương Vương long trọng và nhiều hơn thờ Đế Minh. Kì Dương Vương được coi thật sự là thủy tổ của người Việt.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Hiển nhiên Kinh Dương Vương Vua mặt trời Chính Ngọ cực sáng là thần tổ mặt trời thế gian sinh ra Lạc Long Quân Mặt Trời Hoàng Hôn (Lạc Dương) và có cháu là Hùng Vương Vua Mặt Trời Mọc.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>-Kinh Dương Vương là vua mặt trời thế gian, thủy tổ loài người, hiển nhiên là Vua Thủy Tổ của Người Việt. Người Việt là Man (Mán, Mường, Mol) có một nghĩa là Người, là Ngời. Kinh Dương Vương là vua thủy tổ của Người Việt Mặt Trời Thái Dương.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Kiểm chứng lại ta thấy rõ Kinh Dương Vương con Đế Minh (cháu ba đười thần mặt trời Viêm Đế) nên Kinh Dương Vương mang DNA mặt trời là Vua Mặt Trời Thế Gian thái dương đầu tiên của nước Xích Quỉ, Người Việt Mặt Trời Thái Dương.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Xích Quỉ

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Kinh Dương vương đặt tên nước Việt đầu tiên là nước Xích Quỉ.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Về cái tên Xích Quỉ này đã có nhiều tranh luận. Người nói không kẻ nói có. Người nói thế này, kẻ nói thế nọ. Ở phần phụ chú trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên, Nhượng Tống cho đây chỉ là chuyện “bịa đặt”.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Về phía những người cho là nước Xích Quỉ có thật, chúng tôi xin nêu ra hai người, một nói về triết là triết gia Kim Định, một nói về ngữ học và nhân chủng học là học giả Bình Nguyên Lộc.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Theo triết gia Kim Định trong Hùng Việt Sử Ca (Thằng Mõ xuất bản 1984) quá trình hình thành văn hóa Việt (từ Việt bao gồm tất cả các dân thổ trước sống trên toàn cõi Trung Hoa hồi thái cổ) có giai đoạn khởi đầu là Hoàng Việt hay Viêm Việt gồm khắp nước Tàu. “Đây là giai đoạn thờ mặt trời mà ấn tích còn sót lại là tên Xích Quỉ hiểu quỉ là làm chủ, còn xích là tinh hoa của cái gì, đây là tinh hoa của thời thờ mặt trời. Cũng trong ý đó nước ta nhận quẻ Li (lửa đỏ của mặt trời) cũng như chim chu tước (con trĩ đỏ) cùng trong liên hệ đó là tên ‘Thần châu xích’ huyện mà sau Châu Diễn dùng để gọi nước Tàu” (tr.42)

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Một người nữa cho rằng chúng ta là Xích Quỉ đó là học giả Bình Nguyên Lộc. Học giả Bình Nguyên Lộc trong Nguồn Gốc Mã Lai của Dân Tộc Việt.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Trong chương Làng Cườm Sống Dậy, học giả Bình Nguyên Lộc trình diện người Việt cổ có màu da thổ chu là người Khả Lá Vàng. “Màu da thổ chu của Khả lá vàng cắt nghĩa được tại sao tên nước là Xích Quỉ mà Nhượng Tống phủ nhận cho rằng không lẽ ta lại lấy tên nước xấu quá như vậy’.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Tôi nghĩ khác. Theo tôi có thể có hai nghĩa: một là nước Người Xích Quỉ hai là nước Hươu Đỏ Xích Quỉ gọi theo thú biểu của Kì Dương Vương.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>-Nước Người Xích Quỉ.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Tên nước Người Xích Quỉ rất giản dị. Xích là đỏ, màu đỏ của mặt trời, của lửa như thấy trong các từ xích đạo, Xích bích…

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Quỉ phiên âm từ chữ Kì, Kẻ là Người như đã biết. Xích Quỉ là Kẻ Đỏ, Kẻ Mặt trời. Nước Xích Quỉ là nước Người Mặt Trời. Kì Dương là Kẻ Mặt Trời. Chứng tích Kẻ Đỏ, Người Đỏ, còn thấy qua các khảo cổ vật đào tìm thấy ở Việt Nam trong các cổ mộ là những thỏi đất đỏ hoàng thổ. Đây là những thỏi “son” con dân Kẻ-Đỏ dùng để bôi lên mặt, lên người. Trong bài 2 nói về Cao Bằng, ta đã biết trong quá trình đào thám sát hang Ngườm Vài (thuộc giai đoạn đá mới, có niên đại cách ngày nay khoảng 7.000 năm) phát hiện một loại khoáng chất là thổ hoàng (đất đỏ). Theo nghiên cứu, người nguyên thủy quan niệm màu đỏ biểu hiện cho sự sống vĩnh hằng và may mắn. Họ dùng thổ hoàng nghiền nhỏ, hòa với nước bôi vẽ lên cơ thể để làm đẹp. Thậm chí họ còn bôi lên cơ thể cho người chết để linh hồn người chết được về cõi vĩnh hằng. Chắc chắn tục này liên quan tới tục thờ mặt trời. Bằng chứng cho thấy việc dùng đất đỏ này thấy ở Thổ dân ở Mỹ châu cũng có tục này nên người Mỹ gọi là ‘Mọi Da Đỏ’ Red Skin, người Pháp gọi là Peau-Rouge. Bằng chứng cụ thể nhất là từ Oklahoma có Okla- là ochre: thổ hoàng và homa là người. Oklahoma: Người Da Đỏ, Redskin. Thổ dân Mỹ châu nhận mình là Người Mặt Trời (People of the Sun) thì Kẻ Đỏ Xích Quỉ con cháu mặt trời thiên đỉnh Kinh Dương Vương hiển nhiên cũng là Người Mặt Trời. Điểm này tôi đã chứng minh rõ qua bài viết Trên Một Trăm Bàng Chứng Người Việt là Người Việt Mặt Trời Thái Dương.

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>Kiểm chứng thêm nữa:

<

p style=”text-align:left;margin:0px 0px 1.69231em”>– Ở Nam Trung Quốc có tộc người Nước thuộc Bách Việt đối nghịch với người Lửa, Mặt Trời Xích Quỉ có tên là Nặc Quỉ [nặc có một nghĩa là đen, đêm, kín, dấu giữ trong bóng tối, dấu tên (nặc danh)], Đức ngữ nacht, đêm. Mầu đen là mầu nước thái âm, nước ở tầng không có ánh sáng mặt trời chiếu tới.

Nặc Quỉ chuyển qua Anh ngữ là Naxi.

Rõ ràng quỉ là người.

  1. Nước Hươu Đỏ Xích Quỉ.

Những bằng chứng sau đây cho thấy Quỉ có một nghĩa là con hoẵng, con hươu.

  • Như đã biết kì có một nghĩa là con

hươu nọc, hươu cọc. Theo k = c =

qu như cuốn = quốn ta có kì = quỉ.

  • Tương tự Hán Việt kỉ (con hoẵng) =

quỉ.

  • Mã ngữ kijang: hươu sủa có ki- = quỉ.

  • Nam Ấn ngữ (Dravidian): Kui kruhu, krusu ‘barking deer’; Kuwi kluhu, kruhu, kurhu ‘antelope’ có kui, kuwi = quỉ,

kùran ‘hog-deer’ (Burrow-Emeneau 1984:161, no 1785)… Ta thấy Kui, kuwi, ku ù- ~ quỉ.

  • Malayalam ngữ kùran ‘hog-deer’ (Burrow-Emeneau 1984:161, no 1785) có kùr- = quỉ.

Như thế Xích Quỉ có thể là Hươu Đỏ, Hươu mặt trời, Kì Dương (với Kì có nghĩa là Hươu) của Kì Dương Vương.

Các tộc người, các bộ tộc, nhà nước (nation) đặt tên theo vật tổ là chuyện thường thấy như ở các thổ dân MỸ châu. Ví dụ ‘nhà nước’ Abenaki (Wabanaki) gọi theo thú biểu tượng Rùa. Rùa biểu tượng Mẹ Đất.

  • Một bằng chứng hỗ trợ thêm nữa là có rất nhiều địa danh Việt Nam và Bách Việt có tên là Hươu.

Như đã biết vài năm trước đây ở Vụ Quang, Hà Tĩnh tìm thấy một loài hươu chậy chậm mà dân địa phương và người Lào gọi là quang khem [quang là hoẵng (qu = h: quả phụ = hóa phụ) và khem là chậm (kh = ch)]. Chúng ta có những địa danh như Quảng Yên, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Đức… và các phần đất xưa thuộc Bách Việt là Quảng Đông, Quảng Tây, Quảng Châu… Hán Việt Quảng ngày nay hiểu theo một nghĩa gì đó nhưng nguồn cội sâu thẳm từ thời thái cổ Quảng, Quang theo tiếng vùng Hà Tĩnh, Lào và Thái hiện kim kwang là con hoẵng. Do đó nguồn cội sâu thẳm của các nơi tên Quảng có thể có nghĩa là xứ Hoẵng, xứ Hươu. Các xứ tên Quảng có thể là châu Hoẵng, châu Hươu. Nên nhớ tên địa danh, bộ lạc thời thái cổ đặt theo vật tổ là chuyện thường thấy. Một nước Xích Quỉ đặt tên theo Hươu Đỏ Kì, Kỉ có nhiều vùng, nhiều tỉnh tên Quảng (Kwang) Hoẵng, Hươu là chuyện hiển nhiên, hợp lý.

….

Tóm lại nước Xích Quỉ là 1. nước Kẻ-Đỏ, Người-Mặt trời, Người Việt Mặt Trời Thái dương của Kì Dương Vương (với Kì có một nghĩa là Kẻ là Người), 2. nước Hươu Đỏ, Hươu Mặt trời, Kì Dương của Kì Dương Vương (với Kì có một nghĩa là Hươu), 3. và cũng có thể có cả hai nghĩa 1 + 2.

(còn tiếp).

___

Ghi chú

.(1). L là dạng dương của N như lang là dạng dương của nàng. Ngày nay theo xã hội phụ quyền ta nói theo L nhiều từ có âm N thời mẫu quyền. Ví dụ như ở thời mẫu quyền ta nói mũi nõ, cặc nõ (mũi, cặc đâm ra như cây nõ, cây cọc) ngày nay ta nói mũi lõ, cặc lõ (lõ vô nghĩa). Người Trung Quốc theo xã xội phụ quyền nên các từ Việt ngữ có âm N chuyển qua Hán Việt thành âm L, ví dụ Việt ngữ nang (cau) chuyển qua Hán Việt lang: binh lang (cau), con cọc (hươu) chuyển qua Hán Việt lộc, nỏ chuyển qua Hán Việt lỗ: Cao Lỗ là ông tổ làm ra nỏ…

.(2). Nai là con cái. Nai:

~ nái, cái: heo nái.

~ nạ: mẹ như chờ được nạ thì má đã sưng, nạ dòng.

~ Thái Lan ngữ nai: đàn bà có con, mẹ.

~ Mường ngữ đai là hươu (n = đ).

~ doe, Cổ ngữ Anh da, nai cái. Ta thấy da biến âm mẹ con với Mường ngữ dạ là mẹ, với nạ, mẹ, như thế cùng nghĩa với nái, nai và với Latin damma, nai cái ruột thịt với dame có một nghĩa là mẹ.

Tóm lại nai là con nái, con nạ, con dạ với nghĩa chung là mẹ. Nai là mẹ của tất cả thú vật cái, trong khi hươu là cha tổ của tất cả thú vật đực (xem dưới).

Vì thế nai sao là thú biểu của Âu Cơ, Mẹ Tổ của loài người và người Việt Nam

Ngày nay dùng hươu nai lung tung. Người Bắc theo dòng dương Hồng Việt Âu Cơ Mường cổ vùng cao, vùng núi nói là hươu. Trong khi Trung Nam phần lớn do các tộc dòng âm Lạc Việt Lạc Long Quân từ vùng thấp, ven biển của bắc Việt di dân vào nên nói là nai. Ngôn ngữ Việt Nam có hai ngành: ngành Hồng Việt dùng nhiều từ mang tính dương trong khi Trung Nam ngành Lạc Việt dùng nhiều từ mang tính âm. Ví dụ như người Bắc nói là cây đa (có một nghĩa là lửa thuộc nọc, dương) trong khi Trung Nam nói là cây da (có một nghĩa là bao bọc thân người, Thái ngữ da gọi là nang có một nghĩa là túi, bao, bọc thuộc nòng, âm) (Tiếng Việt Huyền Diệu).

Để nói cho chuẩn chỉ dùng hươu cho con đực và nai cho con cái. Ví dụ phải nói là con nai sao là thú biểu của Âu Cơ không thể nói con hươu sao là thú biểu của Âu Cơ.

Cũng nên biết thêm là hươu thần thoại hóa thành con kì (đực) và nai thần thoại hóa thành con lân (cái) trong cặp kì lân.

.(3). Quẻ Li viết theo Việt dịch nòng nọc (âm dương) là IOI. Hiện nay theo dịch que thế gian của Trung Hoa cho là Lửa. Thật ra phải hiểu đây là lửa thế gian phun ra từ núi lửa (đất dương). Lửa Li thế gian là lửa dương I thiếu dương khác với lửa thái dương vũ trụ Càn III. Dịch Trung Hoa là dịch muộn hơn Việt dịch nòng nọc (âm dương).

Ta phải hiểu Li biểu tượng cho núi lửa, núi dương nhọn đỉnh, đất dương, lửa thiếu dương

My Blog: http://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/


Diem ‘Richard’ Nguyen

Liên Minh Bảo Hiến Mỹ Gốc Việt
Vietnamese American Conservative Alliance (VACA)
https://freedom-vaca.org/vaca-blog-tieng-viet-nam/

https://freedom-vaca.org/vaca-main-blog-english-articles/

Discover more from Vietnamese-American Conservative Alliance (VACA)

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading