From: Dien Luc <dienluc40>
Date: Mon, Jun 1, 2026 at 5:44 AM
Subject: Phật A Di Đà có thật hay không ?
To: Dien Luc <dienluc40>
@@@@@@@ Chư Thiên của Lục Đạo Luân hồi là ai ?
Muốn Giác ngộ, Giải thoát Sinh tử, Chứng nhập Vô dư Niết bàn, thì hãyTự lực tu hành. Nhưng khi bị Thiên tai hay đau bệnh, thì “không thể Tự lực được”, mà phải cầu xin Chư Phạm Thiên, gọi tắt là Chư Thiên, Trợ Duyên,Paccaya, giúp cho Nhân lànhcủa chúng ta, chóng thành Quả lànhđể trấn áp Nghiệp dữ.Đó là lời Phật dạy trong các bài Kinh sau đây:
1) Kinh Châu báu,Ratana Sutta(Thành Vesali bị Thiên tai. Phật dạy cho Chư Thiên là:Hãy Trợ Duyên, Hộ trì những chúng sinh, có tạo Nhân lành)
o.. @ …Tất cả chúng Thiên nhân
Hãy đồng tâm hoan hỷ
Mở rộng “tấm lòng Từ”
Luôn chuyên cần gia hộ
Những người Nam, Nữ nào
Ngày đêm “thường Bố thí” …(nghiã là có tạo Nhân lành. Nhờ đó, được Trợ duyên, Hộ trì)
2) Kinh Cầu thỉnh Chư Thiên(Tích lan có29 bài Kinh Hộ trì, Paritta /Thái lan có 11 bài)
Chư Thiên ngự trên Hư không
Địa cầu thường ngự, rõ thông mọi điều …
Click …or … copy and paste the Link … then scroll up.
Chư Thiên, Brahma của Lục đạo Luân hồi, là các vị Thần, vị Thánh … là các Thiên nhân, Celestial beings của các cõi Trời: Đao lợi, Dạ ma, Đâu suất … Đó là: Maha-Brahma(Đại Phạm Thiên ở trên Trời cao) … hay Baka, Sahampati, Sakka … hoặc Naga, Long vương (Tiểu Phạm Thiên ở dưới Thế gian)
Phật giáo Nguyên Thủy chỉ cầu xin Chư Thiên như: Long vương, Đế Thích, Đại Phạm Thiên.Nhưngkhông cầu xin các vị Bồ tát của Phật giáo Đại thừa. Vì Kinh Đại thừa là lời dạy của các Sư Tổ, chớ không phải là lời dạy của Phật.(Xem các dẫn chứng bên dưới).
@@@@@@@ Phật A Di Đà có thật hay không?
-1) * Trong 4 lần kết tập Kinh điển, kết tập lời dạy của Phật thì chỉ có Kinh, bằng tiếng Pali của Phật giáo Nguyên thủy, Original Buddhism. Hoàn toàn không có Kinh, bằng tiếng Sanskrit của Phật giáo Đại thừa, Developed Buddhism. Như vậy các bài Kinh Đại thừa như: Địa tạng, Dược sư, Pháp hoa, Di Đà … là do các Sư Tổ chế tác … sau nầy. Tương tự như Kinh: Pháp Bảo Đàn là do Sư Tổ Huệ Năng chế tác. Các bài Kinh nầy không phải là lời Phật dạy.
-2) * Câu Kinh: “Namo AMiTa Buddha … Nibbana” trong Kinh Tạng Sanskrit, có nghiã là: Namo “vô số” Phật … hay Namo Chư Phật … vì AMiTa là: vô số, vô lượng. Đại Sư Huệ Viễn (慧遠) 334-418, lầm tưởng AMiTa là tên của một Vị Phật, cho nên chuyển âm Namo AMiTa, thành: Namo A Mi Đà(Trung quốc)hayNamo A Di Đà(Việt nam)… còn Nibbana là Niết bàn, thì được diễn giải thành Tây phương cực lạcvà từ đó tạo lập Pháp môn Tịnh độ, vào năm 402, đời Đông Tấn, tức là khoảng thế kỹ thứ 5, tại vùng núi Khuôn Lư, huyện Lô Sơn, tỉnh Chiết Giang, Trung quốc. Tịnh độ tông có 14 Sư Tổ. Đại sư Ấn Quang là Sư Tổ cuối cùng. Tất cả 14 Sư Tổ đều là người Trung hoa, không có người Ấn độ ?
Như vậy tại Ấn độ, Phật Thích Ca không có nói gì cả, về Phật A Di Đà và Pháp môn Tịnh độ cho nênkhông có Sư Tổ nào là người Ấn độ. Điều nầy có nghiã là: Phật A Di Đà là do các Sư Tổ Trung Quốc tạo ra.
-3) * Vãng sinh Cực lạc? Theo Kinh văn: Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn, văn thuyết A Di Đà Phật, “chấp trì danh hiệu”, nhược“Nhất nhật” … “Nhất tâm bất loạn”kỳ nhơn “lâm mạng chung” thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng,hiện tại kỳ tiền, thị nhơn chung thời “tâm bất điên đảo” tức đắc vãng sinh A Di Đà Phật Cực Lạc quốc độ.
Không ai biết “hình dáng thực sự” của Phật Di Đà ra sao? Hình và Tượng Phật Di Đà hiện có, là do các Nghệ nhân đã giả tạo … (như tạo raPhật Di Đà, mặc “áo” hở ngựcđể phân biệt với Phật Thích Ca, đấp “y”kín cổ).Thế nhưng, chỉ cần niệm các Hình, Tượng giả tạo đó … trong một ngày = “Nhất nhật”… Hơn nữa, phải niệm với “Nhất tâm bất loạn”… và niệm ngay cả lúc sắp “lâm mạng chung” thì sẽ được vãng sinh Tây phương cực lạc?…Ba điều nầy là “Bất khả thi” !.!.!.
Lại nữa, có nhiều người tin rằng:Niệm Phật Di Đà là cáchhành Thiềnđể chứng đắc “Nhất Hạnh Tam muội” và thành Phật, mặc dù họ vẫn còn tham dục, vẫn cònham muốn vãng sinh, cho nênhọ không chọn Phật Thích Cahay một vị Phật nào khác, mà lại chọn Phật A Di Đà để làm đối tượng Thiền?!… Đó là hoang tưởng … Vì 3 bài Kinh căn bản của Tịnh độ tông, không có nói gì cả, về cách Thiền nầy.
-4) * Phật Hoàng Trần Nhân Tông nói rằng: “Phật A Di Đà là giả tạo”. Ngài viết trong bài Phú: “Cư trần lạc đạo” … “Hội’’ thứ hai … như sau:
Tịnh độ là: “lòng trong sạch”, chớ còn ngờ hỏi đến “Tây phương”.
Di Đà là: “tính sáng soi”, mựa phải nhọc tìm về “Cực lạc”.
Di Đà chỉ là “tính sáng soi” của chính mình, chớ không có Phật Di Đà nào cả.
-5) * Theo Sử liệu, Phật Sử thì trong 4 lần kết tập Kinh điển, hằng ngàn Tăng sĩ xác nhận làĐức Phật có nói: Tên của 6 vị Phật quá khứ … và … Tên của vị Phật tương lai. Đó là Phật Di Lặc … Nhưng hoàn toàn không có nói: Tên của Phật A Di Đà.
-6) * Phật A Di Đà chỉ có trong Kinh của PG. Đại thừa,Developed Buddhism, nhưng không có trong Kinh của PG. Nguyên thủy,Original Buddhism. Người Thái lan, Miến điện, Cao miên, Tích lan, Lào vân vân … Họ tu theo P.G. Nguyên thủy,cho nênhọ không thờ Phật A Di Đà. Chỉ có Trung quốc và Việt nam thờ Phật A Di Đà mà thôi.
-7) * Tự tánh Di Đà / Duy tâm Tịnh độ… Câu Kinh nầy trong Kinh Thủ lăng nghiêm, là của Phật Giáo Đại thừa. Như vậy Phật Giáo Đại thừa cũng nhìn nhận: Phật A Di Đà chỉ có trong “Tự tánh” của chính mình, chớ không có ở Tây phương.
-8) * Kinh Nguyên thủy rất ngắn và rất bình dị. Ngược lại, Kinh Đại thừa rất dài và rất cao siêu … /// … “Vì rất dài” … cho nên không thể ghi chép Kinh Đại thừa trên lá Bối như Kinh Nguyên thủy để cho hậu sinh sau nầy biết: Đó chính là lời Phật dạy (lá Bối = Palm tree leaves) … “Vì rất cao siêu” … cho nên vào thời của Phật, con người còn mộc mạc, chất phác, không thể hiểu được Kinh Đại thừa. Như vậy các bài Kinh Đai thừa nhưKinh: Bát nhã, Kim cang, Bi hoa, Di Đà … không phải là lời Phật dạy.
-9) * Phật dạy: Chúng sinh chỉ có 6 nẻo để tái sinh. Nếu có thêm “Tây phương” Cực lạc, tức là có thêm một nẻo tái sinh nữa … nẻo tái sinh thứ 7và như vậy là sai với lời Phật dạy … Hơn nữa, Vũ trụ mênh mông cho nên không có “Tây phương”hay Bắc phương, Nam phương gì cả.
Chín (9) dẫn chứng nói trên, cho thấy: Phật A Di Đà là do 14 Sư Tổ của Trung quốc đã tạo ra. Đó là các Sư Tổ: Huệ Viễn … Diên Thọ … Ấn Quang.
Click theLink để nghe Sa môn Satyavahanu xác minh: “Phật A Di Đà là giả tạo”.
https://www.youtube.com/watch?v=o6DApy1DKts&t=28s
@@@@@@@Hãy Tu tập: “Giáo Pháp” của Phật Thích Ca.
(Tu tập theo: Original Buddhism, Phật Giáo Nguyên thủy, PG. Nam Tông, PG. Nam Truyền)
Đó là: Tu học “Bát Chánh Đạo”… dứt trừ 10 “Kiết sử”để chứng đắc: Tứ “Thánh Quả”…từ Thánh Quả: Tu đà hoàn cho đến Thánh Quả: “A La Hán” … hay là, từ Nhập lưu cho đến “Vô sanh” … ///…Nhờ đó, sau khi chết, tái sinh … từ Chư Thiên, Deva … cho đến Thanh Văn Phật, Sravaka Buddha.
“Bát Chánh Đạo”: Chánh tri kiến, Chánh Tư duy, Chánh ngữ … Chánh Định …và
Chánh Niệm, Sammã Sati … Hãy ““Sống”” trong Chánh Niệm(nghĩ nhớ, chú tâm)
@-1 Chánh Niệm: “Thế gian là Vô thường, Khổ và Vô ngã”. (Vô ngã là: Không có Tự thể) Đó là: Thiền Tứ Niệm xứ, Cattãro Sati Patthãna Bhavana.
@-2 Chánh Niệm:“Hơi thở”.Đó là:Mindful breathing Meditation,Ãnãpãna Sati Jhãna. Đây là “Chánh niệm” Thân, vì Thực tại của Thân là đang Thở. Niệm hơi thở cũng là 1 trong 40đề mục để Định tâm trong“Chánh định” Phương pháp Thiền nầy rất căn bản, nhờ bao trùm cả Chánh niệm và Chánh định. “Niệm hơi thở” để an tĩnh Tâm, giảm stress và nhờ Định sinh Tuệ.
@-3 Chánh Niệm: “Thực tại hiện tiền”. Đó là: Thiền Tuệ, Vipassanã. Niệm tưởng, chú tâm vào các sinh hoạt hằng ngày như đang tưới cây, đang đi, đang ăn để … “““An trú trong hiện tại””” … tức là không hồi tưởng việc đã qua hay vọng tưởng chuyện chưa tới. Nhờ vậy, không còn lo sợ hay buồn khổ.
Kinh:“Nhất dạ Hiền giả”và … Sách: “The Power of NOW” của Triết giaEckhart Tollecũng diễn giải chân lý nói trên.
Chánh niệm, Mindfulness.The word “Mindfulness”, in Chinese characters consists of two idioms. The top idiom means: now / present moment and the bottom idiom means: heart / mind. Therefore, mindfulness means: “Presence of heart”. In another words, it is the practice of paying attention to each moment of the dayby maintaining awareness of our thoughts, body sensations and surrounding environment.
Hãy chuyển tiếp, forward “Câu Kệ" sau đây để được Chư Thiên hộ trì.
Namo tassa: Bhagavato, Arahato, Samma-Sambuddhassa
Điện lực










