Dđ TuoiHac -> Những Viên Gạch Cộng, Trừ, Nhân, Chia Của Phật Học

From: Yahoo Mail !! <khaivo297>

Date: Fri, Jun 5, 2026 at 17:26

Khi đứng trước một sự kiện mà Tâm không… khởi lên một ý niệm vui,buồn thì không tạo duyên(cause) để từ đó nó tạo ra nhiều tư tưởng (effects) hay tạp niệm tiếp nối khác như chán đời,tự tử hay khoái lạc,hưng phấn?Tóm lại tu hành là không để cho hoàn cảnh chi phối Tâm của mình.KV

On Friday, June 5, 2026 at 08:54:52 AM MST, Duc Lam <duc_huu_lam> wrote:

Theo thiển ý chúng ta cần đặt câu "vạn pháp do tâm" vào trong đúng ngữ cảnh. Tâm có ảnh hưởng rất lớn đến cách con người cảm nhận khổ vui. Ví dụ khi người thân vừa qua đời thì tâm khởi đau buồn. Tuy nhiên, không thể vì tâm đang buồn rồi đổi thành vui mà biến một đám tang thành một đám cưới. Hoàn cảnh khách quan vẫn hiện hữu; tâm chỉ là một duyên trong cách ta nhận thức và phản ứng với hoàn cảnh ấy.

Duyên sinh không phải là tâm linh. Tâm hay tâm linh chỉ là một pháp trong vô số pháp duyên sinh. Giống như số 2 là số chẵn, nhưng không phải mọi số chẵn đều là số 2. Tâm là một pháp duyên sinh, nhưng Duyên sinh không đồng nghĩa với tâm hay tâm linh.

Ngoài ra, theo Phật học, Duyên sinh không phải là một thực thể được tạo ra bởi một chủ thể nào. Duyên sinh chỉ mô tả nguyên lý tương thuộc của các pháp: cái này có thì cái kia có, cái này sinh thì cái kia sinh. Câu hỏi "Duyên sinh từ đâu mà có?", thì theo thiển ý câu hỏi ấy có thể không thuộc phạm vi mà mệnh đề Duyên sinh đang trả lời. Chúng ta có thể hình dung Duyên sinh như một mạng lưới tương thuộc, gần với hình ảnh các điểm nằm trên bề mặt một hình cầu. Trên bề mặt ấy không có một điểm nào tự nhiên được xác định là điểm khởi đầu tuyệt đối. Vì vậy, trong mô hình này, câu hỏi về một điểm xuất phát đầu tiên của Duyên sinh có thể không áp dụng.

Ở đây, có lẽ chúng ta đang thường lẫn lộn giữa hai nghĩa khác nhau của chữ "thường" trong tiếng Việt. Trong Phật học, chữ "thường" trong cụm từ "vô thường" mang nghĩa thường hằng, bất biến, cố định. Vì vậy, vô thường chỉ có nghĩa là một pháp không giữ nguyên trạng thái mà luôn biến đổi. Chữ "thường" ở đây không mang nghĩa thường xảy ra, bình thường, thông thường, hay ngược lại là bất thường, hiếm gặp hoặc ngẫu nhiên.

Ví dụ, Sinh đến Diệt là nói về vô thường. Còn sinh như thế nào, chết như thế nào mới là câu chuyện của bình thường hay bất thường, thường gặp hay hiếm gặp.
Hơn thế nữa, vô thường chỉ áp dụng trên sự thay đổi của cùng một pháp theo trục thời gian, chứ không phát biểu về sự khác biệt giữa hai hay nhiều pháp. Một người từ trẻ đến già là vô thường; một bông hoa từ nụ đến tàn là vô thường. Ngược lại, pháp A khác pháp B chỉ là sự sai khác giữa các pháp, không phải là nội dung mà khái niệm vô thường đang nói đến.

DHL

On Thursday, June 4, 2026 at 04:47:45 PM PDT, minhson truong <tms20022003> wrote:

Hì hì, Bác Võ Khải ơi, loài người chúng ta vốn được sinh ra với đầy đủ các thứ "đòi hỏi ích kỷ" để tồn tại trên thế giới "ô trọc" này, thiếu chúng là chỉ có chết thôi, chẳng hạn đói mà không chịu ăn thì ngủm là cái chắc, (mấy kẻ bị bệnh anorexia có sống dai đâu ?). Những cái tứ khoái như ăn ngủ, đ, ỉa.. không thể thiếu vì đó là.. "bổn phận" trời trao phó nên đành chấp nhận… với nụ cười.. cám ơn !

Điều cần thiết là phải điều hòa chúng cho đúng cân lượng, không để cho chúng vượt ngưỡng.

Trong cơ thể của mỗi sinh vật đều có 2 thứ nội tiết tố (hormones) nam và nữ đối nghịch đấu kiếm nhau chang chảng ngày đêm để cân bằng các sinh hóa. Một thằng đàn ông chính hiệu bổng hormone nữ tăng vượt trội hơn hormone nam thì giọng nói hắn trở nên ẻo lã, bắp thịt vú bổng phồng bự như trái bưởi và hắn đâm ra ghét cái củ khoai lòng thòng giữa háng và thích cắt bỏ nó để gắn con hến vào thay thế… thì kẻ đó sẽ mất hết ý nghĩa làm người của mình.

Vì thế không nên diệt hết tham sân si được vì chúng cần thiết để duy trì cuộc sống và nòi giống của chúng ta. Chúng ta không nên hô hào diệt "thất tình lục dục" mà chỉ nên điều hòa chúng thôi… Hì hì

On Thursday, June 4, 2026 at 05:42:36 p.m. EDT, ‘Yahoo Mail !!’ via DiendanTuoiHac <xomnhala_yamaha> wrote:

Đức Phật được sanh ra đời để …cảnh tỉnh nhân loại về bản chất … vô thường của cuộc đời vì không có gì… bền vững với thời gian mà luôn biến đổi… tùy duyên.Cho nên ,đừng vì sự vô thường đó mà bám víu,tưởng là thật như tiền tài,danh vọng,quyền lực mà gây nhiều tội lỗi để chiếm hữu,rồi tạo nghiệp mà phải chịu luân hồi,quả báo để đào thai hoài và chịu khổ liên miên do sanh,lão,bệnh,tử mà ra?Giải thoát là phải chấm dứt tiến trình luân hồi ,sanh tử nầy.Đức Phật nói rất đúng là "Vạn pháp do Tâm",tức là mọi sự xảy ra trên đời đều phát xuất từ "Tâm’,từ" tư tưởng" mà ra cả .Người máy có đầy đủ bộ phận như con người,nhưng không có AI thì không vận động được,giống như xe hơi không có con người điều khiển thì cũng không chay được vậy.Bởi vậy,chính cái" tâm ham muốn" mới điều khiển vật chất và thế giới ta bà nầy.Cái tâm ham muốn nầy cũng vô thường,là…tạp niệm’không thật vì nó thay đổi không ngừng theo hoàn cảnh ,với nhiều tính toán,mưu toan để đạt cho được mục đích tốt,xấu và nó không thực ngoài cái hệ quả mà chúng đem lại để thỏa mãn cái" tôi",cái" bản ngã"nhất thời.Đức Phật đã chứng minh cái "Tôi" cái "bản ngã" bao gồm ngũ uẩn như tai,mắt,mũi,miệng thân, ý…v.v mà con người cho là "tôi",là" mình" là không thật vì thiếu một bộ phận là không còn ta nữa rồi?Cho nên,mục đích của" tu hành "là dẹp bỏ cái tâm tham,những tạp niệm này đi vì chúng dẫn ta vào con đường luân hồi sinh tử mãi mãi ,để trở về lai cái "Chân Tâm"nguyên thủy gọi là "bản lai diện mục" trong nhà Phật,mà các bậc tu hành cố gắng đạt được qua Thiền quán,mà bất cứ ai cũng có,và là lý do mà ai cũng có thẻ "tự mình đốt đuốc mà đi"theo nghĩ nầy.Mình làm sai thì phải tự mình sủa sai,chứ không ai làm thay cho mình được cả?Xin góp ý cho vui.KV

On Thursday, June 4, 2026 at 01:04:39 PM MST, ‘minhson truong’ via Nhân Bản Diễn Đàn <nhanbandiendan> wrote:

Cám ơn ông Đức Lâm đã giải bày triết lý Phật Giáo cho tôi nghe, tôi sẽ từ từ tìm hiểu và học hỏi.

Tuy nhiên thắc mắc của tôi khá đơn giản vì nó đang căn cứ trên sự vô thường của mọi vật. Phải chăng "vô thường" chỉ áp dụng cho vật hữu thể (được cấu tạo bởi năng lượng như hạt tử, nguyên tử, phân tử vv.. mà trong đớ các lượng tử thay đổi không ngừng khiến không gì tồn tại ở trạng thái bền vững) hay vô thường cũng xảy ra cho thế giới của tư tưởng và tâm linh ?? Tư tưởng là thứ bay nhảy, vụt xuất hiện và biến nhanh. Ngươi ta đồn răng những "thiền sư nào kiểm chế và cầm giữ tư tưởng của mình vào một điểm thì đạt được ý chí thượng thừa", giồng như câu trong kinh sách Thiên Chúa Giáo ghi rằng "Nếu các ngươi có lòng tin bằng hạt cải, thì dẫu các ngươi có bảo cây dâu này: "Hãy bứng rễ mày đi mà xuống mọc dưới biển", nó cũng sẽ vâng lời các ngươi" !!

Duyên sinh có phải là tâm linh không ? Mà đã là tâm linh thì sao nó có thể điều khiển được những vật chất vô thường để tạo điều kiện cho người tu hành được thành đạo ? Duyên sinh do đâu mà có, sức mạnh tư tưỏng nào đã tạo ra điều kiện duyên sinh ? hay đó cũng chỉ là sự tình cờ của Vô thường ? Nếu đó là sự tình cờ thì rất khó xảy ra lần thứ hai, giống như một vì sao băng không thể xảy ra một lần thứ hai trên cùng một quỹ đạo.

Đó là lý do tôi nghĩ rằng cái Duyên thành đạo và giác ngô của Đức Phật khó có thể xảy ra cho một người thứ hai, ngoại trừ sự giác ngộ đó có thể đạt được bằng rất nhiều đạo pháp tu luyện khác nhau và chẳng pháp nào giống pháp nào cả ! Cũng có lẽ vì vậy mà Đức Phật đã khuyến khích "Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình". Hay nói nôm na: Tự cầm đuốc mà đi. Không con đường nào giống con đường nào, ấy đúng là vô thường !! Nhưng mọi con đường đều dẫn đến một đích. (vô thường mà có một mục đích thì cũng lạ !) Giống như câu của dân La Mã thời xưa "tous les chemins mènent à Rome" vậy !

Ông Đức Lâm viết rằng "giáo lý Phật học đặt nền trên vô ngã. Nếu chư pháp vô ngã thì ngay cả những khái niệm như Phật, Pháp, Duyên sinh hay Vô thường cũng không nên bị hiểu như những thực thể có tự tính độc lập tuyệt đối để chấp thủ. Hơn nữa, một bậc giác ngộ nếu thật sự vô chấp thì cũng không nhất thiết phải tự công bố mình giác ngộ hay để lại một hệ thống tôn vinh cá nhân cho hậu thế. Do đó, việc chúng ta không biết đến những bậc giác ngộ khác không đồng nghĩa với việc họ không tồn tại."

Theo như câu trên thì có thể đã có rất nhiều vị tu hành đã giác ngộ và hiển linh nhưng họ đã không bày tỏ cho ai biết, xưa nay chỉ có Đức Phật Thích Ca là vị đã chân tình nói lên phương pháp tu luyện và sự thành công của ngài cho mọi người biết để học theo (chứ không phải để tự tôn vinh mình như các đệ tử của ngài đã phịa ra khi viết rằng "Sau khi đản sanh, ngài bước 7 bước và mội bước có hoa sen đỡ chân ngài. Ngài tuyên bố rằng "Ta là bậc chí tôn cao quí nhất trên đời"),

Những vị hậu duệ tu hành thành công đáng ra phải kể cho mọi ngườì nghe về cái Duyên nào mà họ đã thành công để kẻ khác noi theo. Đáng ra trong mọi nơi tu hành cần phải chuẩn bị những điều kiện cho cái Duyên Giác Ngộ đó xảy ra (chẳng hạn trồng cây bồ đề hoặc dạy phương pháp thiền để tập trung tư tưởng vv..)

Tu hành đâu phải dễ ! Giác Ngộ lại muôn vàn khó khăn hơn !

On Thursday, June 4, 2026 at 11:48:30 a.m. EDT, Duc Lam <duc_huu_lam> wrote:

Liên quan đến một ý kiến của độc giả minhson truong cho rằng Đức Phật thành đạo chủ yếu do một tổ hợp duyên hiếm hoi xảy ra đúng lúc, nên việc thành Phật khó có thể lặp lại lần thứ hai, theo thiển ý có lẽ cần phân biệt giữa "duyên sinh" và "ngẫu nhiên".

Nếu chấp nhận "ngẫu nhiên" như một lời giải thích đầy đủ, thì về nguyên tắc một con khỉ gõ máy cũng có thể "ngẫu nhiên" viết ra Nguyễn Du, Shakespeare, hay bất cứ kiệt tác nào.
Nhưng khi dùng chữ "ngẫu nhiên" để giải thích tất cả, chữ ấy gần như không còn giải thích được gì nữa.

Vấn đề không phải là một biến cố lạ có thể xảy ra hay không, mà là: điều gì tạo nên sự nhất quán, trật tự, chiều sâu và mối liên hệ nhân duyên trong toàn bộ quá trình ấy? Vì vậy, duyên sinh không nên bị hiểu đơn giản là ngẫu nhiên. Duyên sinh chỉ rằng các pháp nương vào nhân và duyên mà hiện hữu, biến đổi và cho ra kết quả.

Trong câu chuyện Thái tử thấy sinh, bệnh, lão, tử, việc thấy ấy có thể là một duyên. Nhưng việc ra khỏi thành để thấy cũng là một duyên. Quyết định từ bỏ cung điện là một duyên. Tìm đạo là một duyên. Tu tập nhiều năm là một duyên. Trí tuệ siêu việt của Ngài cũng là một duyên.

Nói cách khác, con người không chỉ chịu tác động của duyên mà còn liên tục tạo ra các duyên mới bằng chính hành động, lựa chọn và sự tu tập của mình.

Có lẽ vì vậy mà con đường giải thoát không phải là ngồi chờ một duyên may hiếm hoi xuất hiện, mà là chủ động tạo duyên và nuôi dưỡng các duyên đưa đến giác ngộ.

Có lẽ đây cũng là tinh thần của câu: Hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình. Hay nói nôm na: Tự cầm đuốc mà đi.

Có lẽ vì vậy mà duyên sinh không nên được hiểu như một sự may mắn ngẫu nhiên, mà là sự vận hành của vô số nhân và duyên tương tác với nhau. Và cũng cần nhớ một điều: Duyên sinh không phải là Thượng Đế.

Duyên sinh không phải là một thực thể độc lập đứng ngoài các pháp để điều khiển các pháp. Duyên sinh chỉ mô tả cách các pháp nương vào nhau mà hiện hữu và biến đổi.

Nếu biến duyên sinh thành một bản thể tuyệt đối, một đấng tối cao hay một nguyên nhân đầu tiên của mọi sự vật, thì có lẽ đã đi xa khỏi ý nghĩa ban đầu của chính chữ "duyên sinh". Hơn nữa, nếu duyên sinh dẫn tới vô tự tính, thì chính duyên sinh cũng không nên được hiểu như một thực thể có tự tính độc lập tuyệt đối. Nếu không, chúng ta lại vô tình biến duyên sinh thành một ngoại lệ đứng ngoài nguyên lý vô tự tính mà chính duyên sinh đang chỉ ra.

Có lẽ đây cũng là một khuynh hướng khá tự nhiên của con người. Ví dụ, nhiều học giả và tín hữu Kitô giáo khi nghiên cứu Kinh Thánh thường tìm kiếm dấu vết hay "dấu chân" của Thiên Chúa để lại trong lịch sử cứu độ, trong các biến cố được ghi lại và trong chính bản văn Kinh Thánh. Tương tự, trong khoa học, người ta cũng không ngừng tìm kiếm những quy luật nền tảng đứng sau các hiện tượng của tự nhiên. Vì vậy, khi tiếp cận một truyền thống tư tưởng khác, đôi khi chúng ta cũng có xu hướng đi tìm một nguyên nhân tối hậu, một bản thể nền tảng hay một "dấu chân" nào đó đứng phía sau mọi sự vật.

Theo thiển ý, có lẽ cần cẩn trọng khi áp dụng cách tiếp cận đó vào duyên sinh. Duyên sinh không phải là một thực thể đứng phía sau các pháp. Duyên sinh cũng không phải một đấng sáng tạo đứng ngoài các pháp. Duyên sinh chỉ mô tả cách các pháp nương vào nhau mà hiện hữu và biến đổi.

Có lẽ vì vậy mà "thấy duyên sinh" không phải là tìm ra một thực thể tối hậu ẩn phía sau vạn vật, mà là thấy cách vạn vật đang vận hành trong tương quan nhân duyên của chính chúng.

Có lẽ vì vậy mà trong kinh có câu: Ai thấy duyên sinh là thấy Pháp. Mọi pháp đều mang dấu ấn của duyên sinh. Thấy dấu ấn ấy thì thấy vô thường, thấy vô ngã và thấy con đường giải thoát mà Đức Phật đã chỉ ra. Ba dấu ấn ấy được gọi là Tam Pháp Ấn.

Nói nôm na, chúng giống như những "dấu chân" mà duyên sinh để lại trên các pháp: vô thường, vô ngã và Niết-bàn.

Dĩ nhiên, giáo lý Phật học đặt nền trên vô ngã.

Nếu chư pháp vô ngã thì ngay cả những khái niệm như Phật, Pháp, Duyên sinh hay Vô thường cũng không nên bị hiểu như những thực thể có tự tính độc lập tuyệt đối để chấp thủ.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là chỉ có một mình Đức Phật là bậc giác ngộ. Nếu chính chúng ta chưa trực diện Chân Như thì lấy gì để làm chứng cho người đã trực diện Chân Như? Người chưa thấy màu đỏ rất khó làm chứng cho người đã thấy màu đỏ.

Người trong hộp rất khó biết người ngoài hộp đang thấy điều gì, và càng khó biết liệu người đó có thực sự không còn nghi ngờ điều mình thấy (liễu tri) hay không. Muốn biết thì cuối cùng vẫn phải tự mình bước ra khỏi hộp.

Hơn nữa, một bậc giác ngộ nếu thật sự vô chấp thì cũng không nhất thiết phải tự công bố mình giác ngộ hay để lại một hệ thống tôn vinh cá nhân cho hậu thế. Do đó, việc chúng ta không biết đến những bậc giác ngộ khác không đồng nghĩa với việc họ không tồn tại.

Có lẽ vì vậy mà trong Phật học, trọng tâm không nằm ở việc xác nhận ai đã giác ngộ, mà nằm ở việc tự mình thấy, tự mình trực diện và tự mình chứng nghiệm điều mà Đức Phật đã chỉ ra.

Xét cho cùng, việc xác nhận ai là người giác ngộ cũng không giúp chính mình được giải thoát. Dù kết luận một người đã giác ngộ hay chưa giác ngộ, thì tham, sân, si của chính mình vẫn còn nguyên nếu chưa tự mình thấy và chuyển hóa chúng. Biết ai giác ngộ chưa chắc giúp mình giải thoát. Nhưng tự mình thấy và thực hành thì mới có cơ hội giải thoát cho chính mình.

Hay nói nôm na: Người khác có thể trao cây đuốc, nhưng không thể đi thay con đường của mình.

DHL

https://thuvienhoasen.org/images/file/-9jzedu_3AgBADxw/vo-thuong.jpg

*Lê Huy Trứ

August 14, 2024

Chúng ta không thể nào trường sanh bất tử, trẻ đẹp, và mạnh khỏe mãi mãi được trên đời. Khoa học đã chứng minh trong thân thể ta, các tế bào (cells) luôn luôn thay đổi, trong một phút không biết bao nhiêu tế bào mới phát sinh thay thế cho tế bào cũ hủy diệt, mà tế bào này lại già hơn tế bào trước. Những thay đổi này không thoát khỏi cái vòng luân hồi của sinh, lão, bệnh và tử. Khoa học chưa tìm ra phương cách cải lão hoàn đồng, thay thế những tế bào này với những tế bào trẻ trung và khỏe mạnh hơn. Trên lý thuyết thì khoa học đã có phương cách cải lão hoàn đồng ở trên nhưng chưa được chấp nhận bởi những xã hội còn tôn trọng thần quyền.

Đức Phật lúc còn là Thái Tử đã than với vợ là Da Du Đà La về thân vô thường, “Chúng ta sẽ già yếu xấu xa. Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Mắt trong của em rồi sẽ mờ đục, môi đỏ của em rồi sẽ úa màu. Ta nghe trong ta, trong em, trong tất cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của búa thời gian, tất cả những gì quý giá nhất của đời người… chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng những bảo vật ở trong ta như ôm một cái bóng, như nắm bắt một làn hương."

Trí tuệ thay!

Ý niệm chúng ta thay đổi trong từng phút, từng giây, từng sátna. Vui vẻ đó rồi buồn khổ đó, thân thiết đó, rồi hờn giận đó. Ý thức chúng ta sanh diệt trong từng sát na. Nhưng vì chính tự nó sinh diệt quá mau lẹ. Cho nên, trong mỗi chúng ta có cảm tưởng như không hề thay đổi gì.

Chưa có một nhân sinh nào tái sinh lại trong tiền kiếp. Bởi vì, cái tâm thức, tấm thân ngũ uẩn, và không-thời gian đó đã hóa thân.

“No man ever steps in the same river twice, for it’s not the same river and he’s not the same man.” Heraclitus

Heraclitus, “IIanta Pei.” Tất cả là một dòng chảy mạnh.

Tam pháp ấn (S: tri-dharma-mudrā; E: three seals of the dharma) là một trong ba nguyên lý căn bản của Phật Giáo – vô thường, vô ngã, và niết-bàn tịch tịnh.

Đạo Phật thừa nhận rằng: Tác dụng của những quy luật vô thường này trong thế giới thực thể (entity) được thể hiện trong những bản kinh của Arvāstivavādins. Bởi vì, nó duy trì tính bất diệt trong trạng thái bản thể (identity) của các pháp suốt ba thời kỳ không-thời gian – Quá khứ, hiện tại và vị lai.

Sanh diệt vô thường, thay đổi nhanh chóng trong từng ý niệm, vạn vật thay đổi hoàn toàn, và không bao giờ giống nhau. Nguyên lý này được giải thích theo quan điểm Phật Giáo là bất cứ sự thay đổi nào của vạn vật đều sanh diệt không ngừng trong từng khoảnh khắc.

Tự tánh vô thường hay tánh không là sự thay đổi liên tục của các hiện tượng trong vũ trụ, bao hàm sự sanh diệt vô thường.

Cái “ta, ngã” chỉ là vô thường tạm bợ, giả tạo mà người đời tự cho cái ta là “duy ngã độc tôn, cái rốn của vũ trụ,” bám víu vào nó, nhân danh nó vì si mê lầm lạc.

Như chúng ta đã thấy không phải chỉ có cái thân ta vô thường, tâm ý ta vô thường mà cuộc sống cũng vô thường. “Thương hải tang điền,” vật đổi sao dời, không ai giàu ba họ không ai khó ba đời, lên voi xuống chó, chúng sinh trầm luân trong bến mê, bể khổ.

Theo Bách khoa Triết học của Phật Giáo Tiểu thừa mang tựa đề Abhidharmamahāvibhāṣāśāstra. Bản gốc Sanskrit bị thất lạc, chỉ còn bản dịch tiếng Hán của ngài Huyền Trang, trong đó nói rằng: một ngày 24 giờ có 6.499.99.980.000.000 sát-na (kṣaṇas); tập hợp năm uẩn (skandhas) sinh diệt trong từng sát-na.

Ngay cả bây giờ, chưa có ai chia thời gian ra tỷ tỷ cực tiểu như vậy. Bởi khi kiến giác được thời gian sát-na chúng ta có thể thấy được vận tốc của viên đạn bắn ra từ nòng súng chậm như rùa bò. Thậm chí chúng ta còn có thể thấy được thời gian dường như ngừng trôi, và trái đất dường như ngừng quay. Không gian dường như không còn khoảng cách. Dường như không còn vô thường đối phật nhãn và trí tuệ của Phật.

Quả thật không như vậy, sự sống của một chúng sinh vô cùng ngắn ngủi như những sát-na. Chỉ kéo dài trong một ý niệm, và khi ý niệm đó dừng lại thì sự sống cũng dừng lại. Chúng sinh trong quá khứ đã sống mà đã không sống. Trong hiện tại đang sống mà đang không sống. Trong vị lai sẽ sống mà chưa sống.

Trên thực tế, nguyên lý vô thường trong vũ trụ không đề cập đến thế giới thực thể mà chỉ đề cập đến thế giới hiện tượng (phenomenon.) Sự giải thích về nguyên lý này có khuynh hướng phủ định hay hủy diệt hơn là hướng đến giải thích tuyệt đối. Đây là điểm quan trọng, trong tầm nhìn của các nhà nghiên cứu kinh điển Phật Giáo. Mục tiêu của Đức Phật không dựa trên trường phái triết học mà vạch ra con đường chứng đắc, và cứu độ chúng sinh khỏi luân hồi khổ đau.

Như vậy, từ nguyên lý vô thường có thể tạo ra nguyên lý hữu thường là niết-bàn tịnh tĩnh. Hơn nữa, trước khi ứng dụng ba nguyên lý này, chúng ta đã diễn bày như một nền tảng căn bản của đạo Phật đối với hiện tượng và thế giới bản thể một cách tương ứng (corresponding.) Chúng ta minh xác rằng nguyên lý vô thường liên quan đến thế giới hiện tượng một cách riêng biệt; còn nguyên lý vô ngã thì có mối quan hệ cả nguyên lý vô thường lẫn thế giới hiện tượng; và nguyên lý Niết Bàn tịch tịnh chỉ tùy thuộc vào thế giới bản thể.

Lý “Vô Thường” chi phối mọi sự vật từ thân, tâm đến hoàn cảnh chúng sinh. Khi hiểu và tìm được phương thuốc vô thường, ta không còn bi quan chán nãn, không đắm đuối với cái ta này, cũng không đắm đuối với cái công danh, và sự nghiệp tài sản của ta hiện có.

Ta sẽ dùng thuốc “vô thường” để trị bệnh “tham ái, mê mờ,” cái bệnh làm cho chúng ta bị mãi mãi thăng trầm lặn hụp trong bể khổ đau, không vượt qua được bờ giải thoát. Diệt trừ được tham ái mê mờ, chúng ta sẽ tiến đến sự an tịnh của tâm hồn.

Nhờ thuyết vô thường, ta hiểu rõ thêm mặt trái của cuộc đời, cái hào nhoáng của vật chất, và ái dục là mồi nhử ta vào đau khổ. Con người có hiểu lý vô thường của sự vật mới khỏi bị trói buộc bởi lòng tham muốn của mình, mới khỏi bị mê lầm say đắm. Bởi chính “chấp thường, còn, không, và mất” mà con người bị đau khổ thì Đức Phật lấy phương thuốc “Vô thường” để đối trị. Khi lành bệnh thì phải bồi dưỡng thêm bằng phương thuốc “Chơn Thường.” Vậy ta phải dùng phương thuốc này để trị bệnh ta đang mắc phải, và khi đã lành bệnh ta sẽ bốc thêm thang thuốc“chơn thường.” Như ngài A Nan trả lời Đức Phật, khi Đức Phật hỏi A Nan về tiếng ngân dài từ cái chuông, tất cả chỉ là dư âm.

Khi hiểu được lý vô thường, sinh tử vô thường, chúng ta sẽ bình tĩnh thản nhiên hơn trước mọi thay đổi bất ngờ của sự vật, thăng trầm của cuộc đời, thời cuộc ngay cả sự mất mác, chia ly hay vĩnh biệt của những người thân thích, yêu thương, hay những gì mà ta quý trọng nhất. Ta dám hy sinh tài sản, ngay cả tính mạng để làm việc nghĩa, và để cứu đời; có nghị lực để giã từ những thú vui tạm bợ; tìm đến thú vui chơn thật; tinh tấn tiến tu; thể hiện Phật Tánh cao thượng.

Tài liệu nghiên cứu:

  • Nguyên lý vô thường trong triết học Phật giáo, Yamakami Sogen, Tuệ Hạnh dịch

Quán Vô Thường

*Lê Huy Trứ

Hạnh phúc ái ân tương phùng đó,
Ngàn đời thương tiếc nổi luyến thương.
Lữ khách vạn dặm quan san đó,
Biết kẻ Chương Đài vẫn ngóng trông.
*

Thuở ấy vườn Xuân Mai rực rỡ,
Cúc Lan sắc thắm ngập hồn thơ.
Tàn cơn nắng Hạ hồng Phượng nhạt,
Sang Thu Đông tuyết vạn tàn hoa.
*

Ngậm ngùi lối xưa hồn thu thảo,
Đền đài dâu bể ánh tịch dương.
Tình yêu nhạt mờ theo gió bụi,
Lạnh lùng băng giá tuyết Đông sa.
*

Trong cõi trần ai tan hợp đó,
Vô minh nào biết cõi Bồng Lai.
Khoái lạc khổ đau mầm ngang trái,
Tương phùng ngầm ẩn lệ chia phôi.
*

Sá chi thế giới vô thường đó,
Thịnh suy giọt móc cỏ đầu phơi.
Biển khổ trầm luân sơn hà biến,
Nẽo về sóng xóa vết chân Di.
*

Bỉ ngạn độ thuyền xa bến mộng,
Giữa dòng bờ giác bất nhị nguyên.
Sớm nên kiến quán vô thường ấy,
Vội tỉnh si mê gở rối lòng.
*Lê Huy Trứ

Discover more from Vietnamese-American Conservative Alliance (VACA)

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading