“Giáo chủ văn thành võ đức, nhơn nghĩa anh minh, trung hưng thánh giáo, trạch bị thương sanh — thiên thu vạn tải, nhứt thống giang hồ!”
Thuở truyện chưởng còn đăng từng kỳ trên nhựt trình Sài Gòn, sáng sáng người ta mua báo, việc trước nhứt là lật coi Lệnh Hồ Xung đã thoát khỏi vòng vây chưa, Vi Tiểu Bảo bữa nay giở trò gì nữa. Trà đình tửu quán bàn chuyện Đông Phương Bất Bại rôm rả hơn bàn thời sự. Ấy vậy mà ngẫm cho cùng, đọc chưởng Kim Dung tức là đọc thời sự — thứ thời sự đội lốt giang hồ, giấu mình trong đao kiếm. Kẻ hèn trộm nghĩ: muốn thưởng thức trọn cái thâm hậu của Kim Dung tiên sinh, phải đọc ông bằng hai con mắt, một con mắt coi võ, một con mắt coi đời.
Hai ngọn bút của họ Tra.
Kim Dung tiên sinh tên thiệt là Tra Lương Dung, chiết chữ “Dung” 鏞 làm đôi mà thành bút hiệu. Năm 1959 ông dựng tờ Minh Báo tại Hương Cảng, ban ngày viết xã thuyết, ban đêm viết tiểu thuyết. Ngọn bút ban ngày nói thẳng: công kích Trung Cộng thời Đại Nhảy Vọt khiến dân Hoa Lục đói kéo nhau vượt biên sang Hương Cảng, rồi thời Văn Cách với cảnh Hồng vệ binh đấu tố thầy, đốt sách thánh hiền. Ngọn bút ban đêm nói bóng: chuyện ân oán võ lâm. Hai ngọn bút một bàn tay, chấm chung một bình mực.
Mà bình mực ấy pha bằng gì? Thân phụ ông, một điền chủ đất Chiết Giang, bị lôi ra đấu tố rồi xử bắn hồi cải cách điền địa đầu thập niên năm mươi. Năm 1967, phe tả Hương Cảng nổi loạn, gài bom ngoài phố, đốt người trong xe; tên “Tra Lương Dung” nằm trong sổ đen ám sát, ông phải tạm lánh sang Tân Gia Ba một dạo. Chính giữa những ngày dầu sôi lửa bỏng ấy, Tiếu Ngạo Giang Hồ ra đời từng kỳ trên Minh Báo. Truyện un đúc trong lò lửa đó, hỏi sao trang sách không nồng mùi thuốc súng?
Triêu Dương thần giáo, hay tấn tuồng tung hô
Hãy coi cảnh giáo chúng Hắc Mộc Nhai quỳ rạp xuống đất, đồng thanh hô lớn: “Giáo chủ văn thành võ đức, nhơn nghĩa anh minh — thiên thu vạn tải, nhứt thống giang hồ!”
Độc giả thuở ấy đọc tới đâu sởn tóc gáy tới đó. Bên kia bờ biển, người ta cũng đương hô “vạn thọ vô cương”, cũng vẫy trên tay cuốn sách nhỏ màu đỏ, cũng xưng tụng một vầng thái dương. Cái tên Đông Phương Bất Bại — phương Đông chẳng hề bại — nghe khác nào một tấm bích chương thời cuộc dán ngay giữa trang truyện.
Chỗ nầy xin mở dấu ngoặc: bổn đăng báo thuở đầu gọi là Triêu Dương thần giáo, sau tác giả nhuận sắc mới đổi thành Nhựt Nguyệt thần giáo; triêu dương hay nhựt nguyệt thì cũng một khẩu khí “ánh sáng soi khắp thiên hạ” — khẩu khí của kẻ muốn làm mặt trời duy nhứt.
Nhưng chỗ thâm nhứt của Kim Dung tiên sinh nằm ở Nhậm Ngã Hành. Thuở mới thoát ngục dưới đáy Tây Hồ, nghe lũ thuộc hạ quỳ lạy tung hô theo lề lối Đông Phương Bất Bại bày ra, y cười khẩy, lợm giọng. Vậy mà ngồi lên ngôi giáo chủ chưa được bao lâu, tiếng tung hô đã lọt tai êm ru; ai đứng thẳng lưng không chịu quỳ, y liếc mắt nhíu mày. Kim Dung không vẽ một bạo chúa. Ông vẽ cái ngai. Hễ ai ngồi lên đó, sớm muộn cũng hóa Đông Phương Bất Bại; Nhậm Ngã Hành chưa kịp hóa trọn, chỉ vì trời bắt y thác thình lình giữa lúc giấc mộng nhứt thống sắp tròn.
Rồi tấn thảm kịch Lưu Chánh Phong. Ông muốn kim bồn tẩy thủ, rửa tay chậu vàng, gác kiếm về vườn vui thú cầm ca. Tả Lãnh Thiền sai người kéo tới, khép tội tư thông yêu nhơn, tru diệt cả nhà — chỉ vì Lưu tiên sinh kết bạn tri âm với Khúc Dương trưởng lão bên kia chiến tuyến, hai người hợp soạn một khúc cầm tiêu. Trong giang hồ Kim Dung, người ta không có quyền từ chức khỏi chánh trị; đứng ngoài phe phái, tự nó đã là trọng tội. Khúc Tiếu ngạo giang hồ, tiếng đàn của tự do, phải trả bằng máu hai họ Lưu, Khúc.
Sau hết là hình tượng cay độc bậc nhứt: pho Quỳ Hoa bảo điển cùng Tịch Tà kiếm phổ, mở đầu tám chữ “Dục luyện thần công, dẫn đao tự cung” — muốn luyện tới tuyệt đỉnh, trước phải vung dao tự thiến. Đông Phương Bất Bại thiến. Nhạc Bất Quần thiến. Lâm Bình Chi cũng thiến. Ẩn dụ mà như nói toạc móng heo: con đường quyền lực tuyệt đối bắt kẻ dấn thân cắt bỏ trước cái căn bổn làm người; được cả thiên hạ mà mất chính mình, ấy là giá đã niêm yết sẵn nơi trang đầu bí kíp.
Chớ tưởng Tra tiên sinh chỉ đánh một phía. Ngòi bút ông quét luôn sang danh môn chánh phái, và chỗ nầy mới thiệt là gan. Tả Lãnh Thiền, chưởng môn Tung Sơn, giương chiêu bài thống nhứt Ngũ Nhạc: hợp năm phái làm một, khỏi cảnh huynh đệ tương tàn — nghe êm tai biết mấy. Kỳ thực đó là bổn cũ soạn lại của mấy ngàn năm chánh trị Trung Hoa: thống nhứt tức thâu tóm, thâu tóm tức trừ khử mọi trung tâm quyền lực khác, dựng một trật tự duy nhứt do một người ban phát ơn mưa móc. Ngũ Nhạc kiếm phái thu nhỏ lại, chính là tấm bản đồ một xã hội đương bị nuốt dần.
Còn Nhạc Bất Quần, ngoại hiệu Quân tử kiếm, miệng lúc nào cũng nhơn nghĩa đạo đức, môn quy gia pháp. Cái tài của Kim Dung tiên sinh là không cho y lộ mặt sớm: độc giả theo chưn y mấy ngàn trang, nửa tin nửa ngờ, y hệt dân chúng đứng trước một chánh khách đạo mạo, cho tới khi mũi kim đâm lén lóe lên mới bật ngửa. Kẻ đáng sợ nhứt trong truyện Tra tiên sinh chưa hề là kẻ vỗ ngực xưng tà; ấy là kẻ ngày ngày xưng mình thay trời hành đạo. Đọc hết bộ Tiếu Ngạo mới thấm: chánh giáo với ma giáo, danh xưng khác nhau mà thủ đoạn in nhau — cũng thanh trừng, cũng hô khẩu hiệu, cũng độc quyền chơn lý. Câu hỏi treo lơ lửng trên đầu người đọc: khi quyền lực đã tuyệt đối, hai chữ chánh nghĩa còn cân được mấy phân lượng?
Nếu Triêu Dương thần giáo còn là ẩn dụ, thì qua Lộc Đỉnh Ký, Thần Long giáo đã là tranh biếm họa vẽ bằng a-xít. Trước mỗi lời bẩm báo, giáo chúng phải xướng: “Hồng giáo chủ tiên phước vĩnh hưởng, thọ dữ thiên tề!” — phước tiên hưởng mãi, sống lâu ngang trời. Bảo huấn của giáo chủ phải tụng thuộc làu, đem ra đối đáp thay cho lý lẽ.
Thuộc hạ bị gieo sẵn độc dược trong ruột, tới kỳ ngoan ngoãn bò về đảo lãnh thuốc giải như lãnh khẩu phần gạo. Ghê gớm hơn cả: lớp công thần khai giáo lần lượt bị phế bỏ, thanh trừng, nhường chỗ cho lũ thiếu niên nam nữ áo xanh áo đỏ, quyền sanh sát nắm trong tay con nít. Độc giả nào từng coi hình Hồng vệ binh đeo băng đỏ trên mặt báo, đọc tới đây há chẳng giựt mình? Chuyện ám chỉ lộ liễu tới mức người đương thời đọc là hiểu liền, mà chính tác giả về sau cũng chẳng buồn cải chánh.
Cái Kim Dung tiên sinh châm chọc nào phải riêng một lão Hồng An Thông. Ngài mổ cho coi trọn bộ máy đẻ ra lãnh tụ tuyệt đối: Hồng giáo chủ có thể sai, nhưng trong giáo không ai được quyền nói y sai; càng được xưng tụng y càng minh thánh, càng minh thánh lại càng phải xưng tụng thêm. Lãnh tụ đẻ ra tuyên truyền, tuyên truyền đẻ ra sùng bái, sùng bái quay lại nuôi lãnh tụ — cái vòng luẩn quẩn ấy, Tra tiên sinh đem bêu ra giữa chợ võ lâm cho thiên hạ cười chơi. Cười rồi lạnh xương sống: mấy trăm triệu con người bên kia biên giới đương sống thiệt trong tấn tuồng đó, đâu phải trên trang giấy.
Lộc Đỉnh Ký còn giáng thêm một đòn nữa, đòn nầy đau hơn, vì nó đánh vào chính cái lý tưởng mà truyện võ hiệp xưa nay vẫn thờ: phản Thanh phục Minh. Thiên Địa Hội của Kim Dung nghĩa khí ngất trời, tổng đà chúa Trần Cận Nam danh vang bốn bể — Bình sanh bất kiến Trần Cận Nam, tiện xưng anh hùng dã uổng nhiên.
Vậy người anh hùng ấy chết cách nào? Đâu được da ngựa bọc thây ngoài trận tiền. Ông chết vì nhát kiếm đâm lén của Trịnh Khắc Sảng — ấu chúa của chính cái cơ nghiệp lưu vong mà ông thờ phụng trọn đời. Trong hội thì chia bè ủng Đường với ủng Quế, đại nghiệp chưa thành đã giành nhau trước cái ngai còn nằm trong mộng.
Ngoảnh sang phía địch: Khang Hy, ông vua ngoại tộc, lại ra dáng minh quân — trừ quyền thần, giảm sưu thuế, lo trị thủy, biết xót dân. Kim Dung để thằng nhỏ Vi Tiểu Bảo — con mụ kỹ nữ Dương Châu, một chữ bẻ đôi không biết — buột miệng hỏi một câu làm bao bậc trang nghiêm nghẹn họng: rốt cuộc trăm họ cần cơm no áo ấm, hay cần bốn chữ phản Thanh phục Minh?
Bộ truyện chót đời Tra tiên sinh (1969–1972) là truyện chưởng mà cơ hồ chẳng còn chưởng: vai chánh không biết võ, sống sót và thắng thế giữa triều đình, giáo phái, hội kín bằng ba tấc lưỡi, bằng nịnh hót, bằng bạc nén. Viết xong Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung tiên sinh gác bút, tuyệt không viết truyện nữa.
Âu đó cũng là lời kết: sau khi lần lượt đưa lên đài rồi hạ bệ đủ cả — dân tộc, chánh thống, cách mạng, lãnh tụ — ông để lại một tiếng cười, tiếng cười của chú tiểu lưu manh đứng coi các đại nghĩa xâu xé lẫn nhau.
Quách Tĩnh, chữ trung viết lại
Muốn thấy đường tư tưởng ấy khởi từ đâu, xin ngược giòng về Anh Hùng Xạ Điêu, viết cuối thập niên 1950, khi họ Tra vừa chứng kiến cả Hoa Lục đổi chủ. Truyện đặt người Hán trước gọng kềm Kim quốc và Mông Cổ, tưởng đâu sẽ là một bài nội Hạ ngoại Di quen thuộc. Mà không. Quách Tĩnh người Hán lại sanh trưởng trên thảo nguyên, lớn lên nhờ sữa ngựa Mông Cổ, chịu ơn tri ngộ của Thành Cát Tư Hãn; tới lúc Đại Hãn mượn tay chàng đánh úp Đại Tống, chàng dứt áo quay về Nam. Về với ai mới được chớ? Triều đình Lâm An hôn ám, gian thần lộng quyền, tướng giữ biên cương thì bị nghi kỵ
Kim Dung tiên sinh không hề tô son lấy một nét. Quách Tĩnh trấn giữ Tương Dương mấy mươi năm, sau cùng chết theo thành, nào phải vì một ông vua; vì mấy chục vạn sanh linh sau lưng thành đó thôi.
Câu chàng nói với Dương Quá — “Vi quốc vi dân, hiệp chi đại giả”, vì nước vì dân mới là hiệp lớn — đã lẳng lặng dời chữ trung ra khỏi cái ngai vàng, đem đặt xuống giữa đám lê dân.
Hoàng đế là một đàng, quốc gia là một đàng, mà trăm họ lại là một đàng khác nữa; ba thứ ấy xưa nay người ta cứ trộn làm một cho dễ bề sai khiến. Lại nhớ đoạn Thành Cát Tư Hãn hấp hối trên thảo nguyên, gọi Quách Tĩnh tới hỏi: bình sanh ta chinh phục ngần ấy đất đai, anh hùng cổ kim ai bằng? Chàng khờ ấy đáp thẳng: giết người nhiều, xương chất thành gò, chưa chắc đã là anh hùng. Văn chương chữ Hán mấy ngàn năm, dễ có mấy ai dám để một đứa con nuôi nói câu ấy trước mặt đấng chinh phục thiên hạ đương nằm chờ chết?
Lục Mạch Thần Kiếm: sanh ở đâu, tội ở đó.
Tới bộ Thiên Long Bát Bộ — bạn đọc Sài Gòn quen gọi theo bổn dịch là Lục Mạch Thần Kiếm — thì tấn kịch dân tộc chuyển thành thảm kịch phận người. Kiều Phong, bang chúa Cái Bang, hào kiệt đệ nhứt Trung Nguyên: chỉ một phong thơ tố cáo gốc gác Khiết Đan, thế là rừng hạnh mở hội kể tội, Tụ Hiền Trang mở trường vây giết.
Công nghiệp 10 năm không rửa nổi một giọt máu “Hồ lỗ” trong huyết quản. Ai từng nghe chuyện xét lý lịch ba đời, đọc mấy hồi ấy ắt thấy quen quen. Chàng về Bắc thì người Nam réo là phản tặc; đứng bên Nam thì người Bắc rủa là phản quốc. Rốt cuộc nơi ải Nhạn Môn, Tiêu Phong bức vua Liêu lập thệ suốt đời không xâm phạm bờ cõi phương Nam, đoạn bẻ mũi tên tự đâm vào ngực mà thác — đền cái tội duy nhứt chàng không hề được chọn: chỗ chôn nhau cắt rún. Con người ta không chọn được nơi mình sanh ra, vậy mà chánh trị của nơi ấy cứ nghiễm nhiên định đoạt trọn một kiếp.
Bên cạnh Tiêu Phong sừng sững là Mộ Dung Phục lụn bại. Gã ôm giấc mộng phục hưng nước Đại Yên đã mất mấy trăm năm; vì hai chữ đại nghiệp, gã phụ rẫy Vương Ngữ Yên, hạ sát nghĩa sĩ phe mình, cầu làm phò mã hết Tây Hạ tới Đại Lý, mặt mũi nào cũng dám đem bán. Lý tưởng càng xưng là cao cả, nhơn tánh trong gã càng teo tóp, cho tới trang gần chót: một người điên ngồi trên nấm mộ hoang, đầu đội mão giấy, nhận lạy của lũ trẻ chăn trâu đổi mấy viên kẹo, miệng phán “chúng ái khanh bình thân”. Lý tưởng quốc gia bốc quá liều, hóa ra căn bịnh; Kim Dung tiên sinh kê toa mà chẳng cho thuốc chữa.
Cô Gái Đồ Long: ai cầm cân chánh thống?
Bạn đọc hẳn chưa quên cơn sốt Cô Gái Đồ Long dạo nào — chính là bộ Ỷ Thiên Đồ Long Ký. Ở đó Kim Dung cố ý xóa nhòa lằn ranh chánh tà. Minh giáo bị cả võ lâm rủa là ma giáo: thờ lửa, ăn chay, hành tung quái dị; té ra chính đám ma quỷ đó xả thân đánh Thát Đát, cứu vớt lê dân. Còn lục đại môn phái danh giá, mang tiếng chánh nhơn quân tử, lại bị một tên Thành Côn giựt dây, kéo nhau vây Quang Minh Đính đòi tận diệt yêu nhơn— chánh khí đằng đằng mà mắt mù cả lũ. Vậy ai cầm cân định hai chữ chánh thống? Kẻ thắng trận? Triều đình? Hay miệng đời?
Câu đồng dao mở truyện đã giấu sẵn lời đáp: “Võ lâm chí tôn, bảo đao Đồ Long, hiệu lịnh thiên hạ, mạc cảm bất tùng; Ỷ Thiên bất xuất, thùy dữ tranh phong?”
Giải ra mới hay trong đao giấu bộ Võ Mục di thư của Nhạc Phi — binh pháp đuổi giặc: ai dùng nó cứu được trăm họ, người ấy đáng hiệu lịnh thiên hạ. Nhưng trong kiếm lại giấu võ công tuyệt thế, phòng một mai kẻ hiệu lịnh thiên hạ kia trở mặt thành bạo chúa, sẽ có người vung Ỷ Thiên kiếm mà trừ đi. Một câu vè con nít gói cả một thuyết trị quốc: quyền bính muốn chánh đáng, phải chịu một lưỡi kiếm treo lơ lửng trên đầu.
Đau nhứt là đoạn kết. Chu Nguyên Chương, xuất thân Minh giáo, dùng thuốc mê với quỷ kế ly gián đẩy Trương Vô Kỵ chán nản rời ngôi giáo chủ, đoạt gọn thành quả xương máu của anh em; ngồi lên ngai rồi trở tay cấm tuyệt Minh giáo, công thần lớp bị giết lớp bị đày. Cách mạng vừa thành công là lúc nó bắt đầu ăn thịt con đẻ của mình. Còn Trương Vô Kỵ võ công cái thế mà lòng dạ nhơn hậu, ai năn nỉ cũng xiêu — Kim Dung nói rõ trong lời bạt: hạng người như thế làm đại hiệp thì dư, làm lãnh tụ chánh trị thì thiếu, bởi nghề ấy đòi lòng dạ sắt đá, thủ đoạn cay nghiệt. Cho nên Vô Kỵ lui về vẽ lông mày cho Triệu Minh, nhường giang san cho họ Chu. Người lành rút lui, kẻ tàn nhẫn đăng cơ — họ Tra hạ bút mà nghe như một tiếng thở dài.
Hiệp Khách Hành: chữ che mất đạo.
Xin ghé đảo Hiệp Khách một chút trước khi kết. Trên vách đá khắc bài thơ Lý Bạch kèm theo rừng chú giải; mấy mươi năm, bao nhiêu tông sư võ học, danh túc uyên thâm, càng nghiền ngẫm huấn hỗ càng tẩu hỏa nhập ma, cãi nhau ỏm tỏi về từng nét chữ. Sau rốt, thằng nhỏ Thạch Phá Thiên dốt đặc, nhìn chữ chỉ thấy nòng nọc bơi lội, lại lãnh hội trọn pho thần công. Đặt cạnh những bảo huấn phải tụng, ngữ lục phải thuộc nói ở mấy đoạn trên, ngụ ý khó mà lầm: kinh điển nào lọt vào tay kẻ độc quyền chú giải, kinh điển ấy hóa gông cùm; chữ nghĩa thánh hiền do người ta mớm cho, càng sùng tín càng dễ bị xỏ mũi dắt đi. Muốn thấy đạo, trước hết phải thoát khỏi chữ.
Xâu chuỗi trọn đời văn Tra tiên sinh, sẽ hiện ra một đường đi. Xạ Điêu cật vấn dân tộc và ngoại xâm. Thần Điêu Đại Hiệp để một gã cuồng sĩ cãi lại lễ giáo, nhứt quyết cưới sư phụ mình làm vợ mặc thiên hạ dị nghị. Cô Gái Đồ Long lật trái hai chữ chánh thống. Lục Mạch Thần Kiếm khóc phận người kẹt giữa các quốc gia. Tiếu Ngạo Giang Hồ mổ xẻ độc tài và sùng bái lãnh tụ. Lộc Đỉnh Ký cười vào cách mạng cùng ý thức hệ. Đem riêng ba bộ Tiếu Ngạo, Lục Mạch, Lộc Đỉnh lại, ta có hẳn một tam bộ khúc chánh trị: quyền lực, dân tộc, và sự vỡ mộng.
Càng về cuối, Tra tiên sinh càng bớt tin phe phái. Lệnh Hồ Xung hai lượt được dâng tới miệng ngôi cao: chức chưởng môn Hằng Sơn phải nhận vì lời thác cô của người sắp thác, còn ngôi giáo chủ Nhựt Nguyệt thì chàng lắc đầu thẳng thừng, chỉ xin cây đàn bầu rượu, phiêu bạt cùng Doanh Doanh.
Sau bấy nhiêu đổ vỡ, cái Kim Dung tiên sinh giữ lại nhỏ lắm: một khúc cầm tiêu của đôi bạn Lưu, Khúc; một chén rượu của gã lãng tử; mạng sống của trăm họ dưới chưn thành Tương Dương. “Thiên thu vạn tải, nhứt thống giang hồ”— tám chữ ấy đọc trong truyện thì tức cười, ngẫm ra ngoài đời thì rùng cả mình.
Giáo chủ nào rồi cũng về với đất; duy tiếng đàn tiếng tiêu bên bờ suối năm xưa, hai kẻ chánh tà hợp tấu trước lúc nhắm mắt, tới nay còn văng vẳng. Truyện chưởng mua vui đôi ba trống canh; gấp sách lại, thấy nguyên một tấm dư đồ máu lệ của cả một thời tao loạn.
Sách tham khảo
“Các ẩn số Chánh Trị trong tiểu thuyết VÕ HIỆP KIM DUNG”. Tác giả: Nguyễn Ngọc Huy
AnhMinh Nguyen(813) 570-0122
(VACA)
City of Tampa MAAPIAC – Director of Community Engagement
Director of Asia Pacific Scholarship Pageant
Asian Pacific Islander Cultural Festival | City of Tampa











