Kính thưa Quý Đồng hương,
Quý Niên, Huynh trưởng và Chiến hữu,
Hôm nay Tưởng Niệm 25 Năm,
Ngày Vị Tổng Thống của nền Đệ Nhị Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu,
tạ thế 29/9/2001 – 29/9/2026.
Xin kính gởi nén hương lòng đến Vị Cựu Nguyên Thủ Quốc Gia đã vĩnh viễn ra đi.
Xin mời Quý Vị theo dõi bài viết với nhiều chi tiết, và các links đến youtube dưới đây của Ông Ngô Kỷ
BMH ///
Washington, D.C
Hôm nay Tưởng Niệm 25 Năm Ngày Giỗ Cố Tổng Thống Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu 29/9/2001 – 29/9/2026. Nguyện Cầu Hương Linh Cố Tổng Thống Về Thiên Đàng.
Trích:
Hôm nay Ngày Giỗ Thứ 25 của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu (29/9/2001-29/9/2026), mời các bạn xem các video và hình ảnh Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, một người lãnh đạo mà tôi kính trọng và cảm kích.
Nếu Cố Tổng Thống Richard Nixon không bị áp lực từ chức vì vụ Watergate, thì tình hình miền Nam Việt Nam có thể khác rồi. Lịch sử sẽ công bố trung thực và minh bạch trong tương lai.
Tôi từng biểu tình và viết bài binh vực, bảo vệ danh dự Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu vào 17 năm trước, vì tên nhà báo, cựu thẩm phán Lữ Giang (tức Tú Gàn-Nguyễn Cần) nhục mạ Ông trên báo Việt Herald.
Mời xem lại hình ảnh Tang Lễ của Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu năm 2001:
https://youtu.be/Ufkc_KROdGI
Cuộc đời Cố Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu:
https://youtu.be/xvVh9-9sMq0
Trích Wikipedia:
Nguyễn Văn Thiệu (5 tháng 4 năm 1923 – 29 tháng 9 năm 2001) là một sĩ quan, chính khách người Việt Nam, từng giữ chức tổng thống Việt Nam Cộng hòa, Chủ tịch Đảng Dân chủ và Mặt trận Quốc gia Dân chủ Xã hội từ năm 1967 đến năm 1975. Trong cương vị một trung tướng bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu được hội đồng tướng lĩnh bầu làm Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia, trở thành Quốc trưởng Việt Nam Cộng hòa vào năm 1965. Là một chính trị gia theo đường lối chống cộng mạnh mẽ, ông đắc cử tổng thống sau khi giành chiến thắng trong một cuộc bầu cử diễn ra vào năm 1967 và nắm giữ cương vị này cho đến khi từ chức chỉ vài ngày trước khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa đầu hàng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong sự kiện 30 tháng 4 năm 1975.
Sinh ra tại Phan Rang, duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam, Nguyễn Văn Thiệu ban đầu gia nhập lực lượng Việt Minh vào năm 1945, nhưng ông đào ngũ và tìm đường vào Sài Gòn chỉ một năm sau đó. Tại đây, ông gia nhập lực lượng Quân đội Quốc gia Việt Nam thuộc Liên hiệp Pháp. Sau khi người Pháp rút khỏi Đông Dương, Quân đội Quốc gia dần chuyển đổi thành Quân lực Việt Nam Cộng hòa còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành Chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt trước khi được thăng cấp đại tá và trở thành một tư lệnh sư đoàn. Tháng 11 năm 1963, Nguyễn Văn Thiệu tham gia đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu. Sau đó, ông được thăng cấp bậc thiếu tướng và bắt đầu tham chính. Nền chính trị Việt Nam Cộng hòa bước vào một giai đoạn bất ổn khi các cuộc đảo chính thường xuyên diễn ra. Bằng cách hành xử khôn khéo, Nguyễn Văn Thiệu leo lên vị trí hàng đầu trong bộ máy quyền lực Sài Gòn giữa lúc các sĩ quan xung quanh ông vướng vào những cuộc đấu đá và thanh trừng nội bộ. Năm 1965, tại thời điểm Nguyễn Văn Thiệu được Hội đồng Quân lực bầu vào chức vụ Quốc trưởng thì nền chính trị miền Nam đã dần ổn định trở lại.
Năm 1967, quá trình chuyển dịch từ chính quyền quân sự thành một chính phủ dân sự ở miền Nam Việt Nam được lên kế hoạch. Sau những cuộc tranh giành quyền lực ngay bên trong nội bộ quân đội, Nguyễn Văn Thiệu, trong liên danh cùng Nguyễn Cao Kỳ, tham gia tranh cử tổng thống và giành chiến thắng. Tuy nhiên, căng thẳng bên trong bộ máy lãnh đạo ngày càng trở nên rõ rệt. Nguyễn Văn Thiệu tìm cách vô hiệu hóa Nguyễn Cao Kỳ bằng việc loại bỏ những người ủng hộ ông Kỳ ra khỏi các vị trí trọng yếu trong quân đội và nội các. Để nắm chắc phần thắng trong cuộc bầu cử năm 1971, ông Thiệu tiến hành áp đặt các quy định mới, ngăn cấm quyền tham gia tranh cử của hầu hết ứng cử viên. Số người còn lại, trong đó có ông Kỳ, đều tự rút tư cách ứng cử viên vì biết trước rằng cuộc bầu cử sẽ có gian lận. Là ứng cử viên duy nhất tham gia tranh cử tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu tái đắc cử với 94% số phiếu.
Trong thời gian nắm quyền, Nguyễn Văn Thiệu bị chỉ trích là đã làm ngơ trước tệ nạn tham nhũng tràn lan. Ông cũng bị cáo buộc là chỉ bổ nhiệm những người trung thành với mình thay vì những sĩ quan có năng lực vào các vị trí chỉ huy trong quân đội. Trong Chiến dịch Lam Sơn 719 năm 1971 và Chiến dịch Xuân – Hè 1972, Quân lực Việt Nam Cộng hòa phải hứng chịu những tổn thất nặng nề do sự thiếu năng lực của các tướng lĩnh dưới trướng ông Thiệu. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973, chính quyền Sài Gòn tiếp tục chống cự thêm hai năm trước khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam phát động tổng tấn công. Trước sức tấn công mạnh mẽ của đối phương, Nguyễn Văn Thiệu, trên cương vị tổng tư lệnh, đã mắc phải những sai lầm chiến lược bao gồm quyết định rút quân hoàn toàn khỏi Cao nguyên Trung phần và dẫn đến những cuộc tháo chạy hỗn loạn lẫn sự tan rã dây chuyền của hàng loạt cứ điểm quân sự. Tuy tuyên bố tái ngũ với cấp bậc trung tướng và sẽ tiếp tục chiến đấu sau khi từ chức, song Nguyễn Văn Thiệu đã bí mật rời khỏi Việt Nam, di tản ra nước ngoài rồi cuối cùng định cư ở Mỹ cho đến khi qua đời.
Thiếu thời
Nguyễn Văn Thiệu sinh ngày 5 tháng 4 năm 1923 tại Phan Rang trong một gia đình khá giả thuộc tầng lớp trung lưu, quê gốc tại làng Tri Thủy, xã Tân Hải, quận Thanh Hải, tỉnh Ninh Thuận (nay là xã Xuân Hải, tỉnh Khánh Hòa).[1] Ông là con út trong gia đình có 7 người con nên lúc nhỏ được gọi là “cậu Tám”.[2] Cha của Nguyễn Văn Thiệu là cụ Nguyễn Văn Trung, một nhân sĩ Nho học, mẹ là bà Bùi Thị Hành.[3] Các anh chị của ông lần lượt là Nguyễn Văn Hiếu, Nguyễn Thị Phiếu, Nguyễn Văn Kiểu và Nguyễn Thị Phận; hai người còn lại đều không rõ tên tuổi.[4] Dù hồi trẻ chưa theo đạo nhưng sau khi học hết lớp đệ tứ (tương đương lớp 9), ông nhập học trường dòng Công giáo Pellerin của người Pháp tại kinh thành Huế dưới sự hỗ trợ của anh cả Nguyễn Văn Hiếu. Khi ông Hiếu rời khỏi Huế vào năm 1939, Nguyễn Văn Thiệu theo chân người anh thứ hai là Nguyễn Văn Kiểu vào Sài Gòn, nhập học Trường Trung học Lê Bá Cang[a] rồi tốt nghiệp với bằng Tú tài bán phần vào năm 1942.[6] Khi Thế chiến thứ hai lan đến Đông Dương, Nguyễn Văn Thiệu về quê làm nông và đánh cá cùng gia đình.[7][8]
Năm 1945, sau khi thế chiến kết thúc, Nguyễn Văn Thiệu gia nhập lực lượng Việt Minh do Hồ Chí Minh lãnh đạo.[9] Ông cùng các đồng chí được huấn luyện quân sự trong rừng, dùng gậy tre tập bắn vì không có súng.[10] Nhờ có năng lực quản lý, Nguyễn Văn Thiệu nhanh chóng trở thành một huyện đội trưởng.[11] Tuy nhiên, chưa đến 1 năm sau, ông đào ngũ vào Nam khi quân đội Pháp quay trở lại Đông Dương. Trong một phỏng vấn với tạp chí Time sau này, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố ông đào ngũ vì biết “Việt Minh là Cộng sản […] họ bắn người dân, họ lật đổ các ủy ban xã, họ tịch thu đất đai”.[7] Nhờ sự giúp đỡ của anh cả là ông Hiếu – một luật sư được đào tạo ở Paris – Nguyễn Văn Thiệu vào Sài Gòn, theo học Trường Kỹ thuật trên đường Đỗ Hữu Vị (nay là Trường Cao đẳng Kỹ thuật Cao Thắng) rồi sau đó thì chuyển sang Trường Hàng hải Dân sự.[12] Sau một năm, Nguyễn Văn Thiệu tốt nghiệp với tư cách một sĩ quan, nhưng từ chối làm việc trên một con tàu khi biết được chủ người Pháp sẽ trả lương cho ông thấp hơn so với sĩ quan Pháp.[11]
nghiệp
Quân đội Quốc gia Việt Nam
Trung úy Nguyễn Văn Thiệu vào khoảng năm 1951
Tháng 9 năm 1949, Nguyễn Văn Thiệu rời ngành hàng hải và ghi danh khóa sĩ quan võ bị đầu tiên của Quân đội Quốc gia Việt Nam khai giảng ngày 1 tháng 10 năm 1948 tại Trường Võ bị Huế, tiền thân của Trường Võ bị Đà Lạt.[13] Ngày 1 tháng 6 năm 1949, ông tốt nghiệp với cấp bậc thiếu úy, ra trường phục vụ trong một đơn vị Bộ binh của Quân đội Quốc gia nằm trong Liên hiệp Pháp. Chức vụ đầu tiên Nguyễn Văn Thiệu đảm nhiệm là Trung đội trưởng đồn trú tại Mỏ Cày, Bến Tre. Cùng năm đó, ông được cử sang Pháp học tại Trường Bộ binh Coëtquidan thuộc Trường Võ bị Liên quân Saint-Cyr.[b][14]
Trong những cuộc đụng độ với Việt Minh, Nguyễn Văn Thiệu thể hiện mình là người có năng lực chỉ huy. Do chính sách chế tài đối với những sĩ quan ở miền Trung và miền Nam nên ông được điều ra Bắc. Đầu năm 1951, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp trung úy, tham gia khóa học chỉ huy chiến thuật tại Trung tâm Huấn luyện Chiến thuật Hà Nội.[c][15] Tháng 7 năm 1951, ông được điều về trường Võ bị Đà Lạt làm trung đội trưởng khóa sinh của khóa 5. Năm 1952, sau khi tham gia khoá đào tạo tiểu đoàn trưởng và Liên đoàn trưởng lưu động tại Hà Nội cùng Cao Văn Viên và Nguyễn Khánh,[16] Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp đại úy và được điều chuyển về bộ chỉ huy mặt trận Hưng Yên và phục vụ tại đây trong vòng 1 năm.[17]
Tháng 1 năm 1954, sau khi được thăng cấp thiếu tá, Nguyễn Văn Thiệu lên nắm quyền chỉ huy Liên đoàn Bộ binh số 11 và dẫn đầu một cuộc hành quân đánh vào quê nhà Thanh Hải. Việt Minh rút lui vào căn nhà cũ của gia đình Nguyễn Văn Thiệu và tin rằng ông sẽ không tấn công tiếp, nhưng họ đã nhầm. Nguyễn Văn Thiệu cho nổ mìn đánh bật được lực lượng Việt Minh ra khỏi khu vực, phá hủy luôn căn nhà nơi mình từng sinh ra và lớn lên.[18] Sau ngày 20 tháng 7 năm 1954, Nguyễn Văn Thiệu làm trưởng phòng 3 Đệ nhị Quân khu Trung Việt do Đại tá Trương Văn Xương làm tư lệnh. Sau đó, ông trở thành tham mưu trưởng Đệ Nhị Quân khu sau khi bàn giao chức trưởng phòng 3 cho Thiếu tá Trần Thiện Khiêm, trở thành Tiểu khu trưởng Ninh Thuận thay Thiếu tá Đỗ Mậu vào cuối năm.[13]
Quân đội Việt Nam Cộng hòa
Năm 1955, chuyển sang thời Đệ Nhất Cộng hòa, Nguyễn Văn Thiệu được thăng cấp trung tá và được bổ nhiệm chức vụ chỉ huy trưởng Trường Võ bị Đà Lạt. Tháng 7 năm 1957, ông được cử đi học khóa Chỉ huy & Tham mưu cao cấp tại Leavenworth, Kansas, Hoa Kỳ. Năm 1958, ông tốt nghiệp về nước và tái nhiệm chức chỉ huy trưởng trường võ bị.[13] Năm 1959, ông tiếp tục được cử đi học khóa Tình báo Tác chiến tại Okinawa, Nhật Bản. Kết thúc khóa học, ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng Hành quân tại Bộ Tổng tham mưu. Ngày Quốc khánh Đệ nhất Cộng hòa 26 tháng 10 cùng năm, ông được thăng cấp đại tá, ngay sau đó được cử đi du học lớp Phòng không tại Trường Fort Bliss, Texas, Hoa Kỳ.[13]
Ngày 11 tháng 11 năm 1960, Trung tá Vương Văn Đông và Đại tá Nguyễn Chánh Thi tiến hành đảo chính chống lại Ngô Đình Diệm.[19] Tuy nhiên, sau khi bao vây Dinh Độc Lập, phe đảo chính trì hoãn tấn công và quay sang đàm phán một thỏa thuận chia sẻ quyền lực. Ngô Đình Diệm giả vờ nhận lời để câu giờ, tạo cơ hội cho lực lượng trung thành với mình có đủ thời gian đến ứng cứu.[20] Phe đảo chính cũng thất bại trong việc phong tỏa các tuyến đường tiến vào thủ đô để chặn quân tiếp viện của ông Diệm.[21] Đây chính là sở hở để Đại tá Nguyễn Văn Thiệu điều động các đơn vị thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh từ Biên Hòa tới Sài Gòn giải vây Ngô Đình Diệm.[22] Trong lúc ông Diệm đọc bài diễn văn giả trên đài phát thanh thì lực lượng trung thành với tổng thống dưới trướng Trần Thiện Khiêm xông vào khuôn viên dinh. Nhận thấy tình hình chuyển biến theo chiều hướng bất lợi, nhiều binh sĩ đảo chính đổi phe.[23] Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống đường để xem hai phe giao chiến.[24] Cuộc đảo chính kết thúc với thắng lợi thuộc về Tổng thống Diệm.[25][26] Ngày 21 tháng 10 năm 1961, Nguyễn Văn Thiệu được bổ nhiệm chức vụ tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh. Cuối năm 1962, ông lại được điều động giữ tư lệnh Sư đoàn 5 Bộ binh.[27]
Lưu vong
Xem thêm: 16 tấn vàng của Việt Nam Cộng hòa
Wikisource tiếng Việt có toàn văn tác phẩm về:
Quyết định ngày 25 tháng 4 năm 1975 của Tổng thống VNCH
Trong bài diễn văn từ chức ngày 21 tháng 4 năm 1975, Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố “tôi từ chức nhưng tôi không đào ngũ” và khẳng định rằng ông sẽ tái ngũ và tiếp tục chiến đấu trong vai trò một vị tướng “kề bên anh em chiến sĩ”.[i][331] Tuy nhiên, ông sau đó đã bí mật rời khỏi Sài Gòn sang Đài Loan trên một chiếc phi cơ C-118 vào đêm ngày 25–26 tháng 4 năm 1975.[332][333] Để cho sự ra đi này được danh chính ngôn thuận, Tổng thống Trần Văn Hương đã ký nghị định đề cử Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm làm đặc sứ Việt Nam Cộng hòa sang Đài Bắc phúng điếu Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch, người đã qua đời gần 3 tuần trước đó vào ngày 5 tháng 4 năm 1975.[334]
Cuộc ra đi của Nguyễn Văn Thiệu và các trợ lý diễn ra dưới sự sắp xếp của Thomas Polgar, trưởng CIA ở Sài Gòn.[335] Theo ký giả Morley Safer, CIA cũng dính dáng đến việc “chuyên chở nhiều va-li chứa đầy kim loại nặng bằng máy bay” ra nước ngoài, mà “kim loại nặng” ở đây ám chỉ tới vàng. Tuy nhiên, theo phóng sự điều tra của báo Tuổi Trẻ, ông Thiệu tuy có ý định chuyển 16 tấn vàng ra nước ngoài, nhưng đã không thể thực hiện. Số vàng được bàn giao cho Ủy ban Quân quản và nằm trong số 40 tấn vàng mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bán ra quốc tế vào năm 1979 để “giải quyết những vấn đề khó khăn cấp bách của quốc gia, trong đó có miếng ăn của người dân”.[336][337]
Sau khi đến Đài Bắc, Nguyễn Văn Thiệu thoạt đầu sống tại nhà anh trai Nguyễn Văn Kiểu, Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Đài Loan, người có một căn nhà ở vùng ngoại ô trước khi cùng gia đình chuyển tới một căn hộ tại khu Thiên Mẫu, quận Sỹ Lâm, Đài Bắc.[338] Vì con trai theo học tại Anh, ông cùng gia đình chuyển tới đây và sinh sống tại một căn nhà ở Kingston upon Thames, tọa lạc phía tây nam Luân Đôn.[339] Trong thời gian ở Anh, ông Thiệu khá kín tiếng, đến nỗi Văn phòng Đối ngoại Anh vào năm 1990 không rõ ông đang làm gì, ở đâu. Đầu thập niên 1990, gia đình ông tới Foxborough thuộc vùng ngoại vi Boston, Massachusetts và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Nguyễn Văn Thiệu không viết hồi ký, hiếm khi trả lời phỏng vấn và từ chối tiếp khách. Ngoài việc nhìn thấy ông Thiệu dắt chó đi dạo, hàng xóm hiếm khi có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu ông.[340] Những lần xuất hiện ít ỏi của ông trước dư luận quốc tế sau khi lưu vong gồm có bộ phim tài liệu Việt Nam cuộc chiến 10000 ngày của Mỹ sản xuất năm 1980 và cuộc phỏng vấn với tạp chí Spiegel của Tây Đức vào năm 1979, trao đổi về quãng thời gian nắm giữ cương vị tổng thống miền Nam Việt Nam.[341][342]
Việc Nguyễn Văn Thiệu ít khi xuất hiện trước công chúng là do lo ngại sự thù địch của người Việt Nam tị nạn cộng sản, những người tin rằng ông là nhân tố chính khiến Việt Nam Cộng hòa chiến bại.[339] Tuy nhiên, ông từng có một số buổi trao đổi với cộng đồng người Việt sau khi sang Hoa Kỳ định cư. Năm 1992, ông Thiệu lên tiếng tố cáo sự xích lại gần nhau giữa Hoa Kỳ và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng từ năm 1993 thì lại có ý muốn thiện chí tham gia vào các cuộc thảo luận hòa giải dân tộc, nhằm tạo điều kiện cho cộng đồng kiều bào có cơ hội trở về nước.[343] Trong một buổi phỏng vấn năm 1993, ông cho rằng Việt Nam cần phải được dân chủ hóa, nhưng phải bằng một giải pháp chính trị ôn hòa, không bạo động “để tránh một cuộc nội chiến gây hận thù triền miên cho các thế hệ mai sau”. Cũng trong buổi phỏng vấn này, ông nói rằng mình đã không làm tròn được nhiệm vụ mà nhân dân giao phó, dù đã “cố gắng trong khả năng chức vị của ông đối với cộng sản và kể cả đối với đồng minh”, đồng thời tuyên bố “nhận lãnh trách nhiệm hoàn toàn trước nhân dân và lịch sử”.[344
















