Khi lịch sử lên tiếng
Đảng Dân Chủ và 250 năm chính sách làm suy yếu nước Mỹ
"Trong chính trị, không gì xảy ra tình cờ. Nếu nó xảy ra, bạn có thể cá rằng nó đã được hoạch định từ trước." (Franklin D. Roosevelt)
Ngày 22 tháng 3 năm 2026, Tổng thống Donald Trump viết trên Truth Social: "Giờ đây, khi Iran đã chết, kẻ thù lớn nhất của nước Mỹ là Đảng Dân Chủ cực tả, hết sức bất tài!" Washington nổi sóng, giới truyền thông nổi giận, và hàng triệu người Mỹ, phản đối cũng như ủng hộ, phải dừng lại nghĩ.
Phản ứng, như mọi lần, là một tràng lên án. Ngay hôm ấy, trên chương trình State of the Union của CNN, lãnh tụ thiểu số Hạ viện Hakeem Jeffries nói Trump nên "ngậm cái miệng liều lĩnh lại trước khi khiến ai đó mất mạng". Các chính khách Dân Chủ ở cả hai viện thay nhau ra trước ống kính truyền hình tỏ ra phẫn nộ.
Nhưng gạt cảm xúc và lòng trung thành đảng phái sang một bên mà chỉ nhìn vào hồ sơ lịch sử, tức những gì các đời Tổng thống Dân Chủ đã làm và những hậu quả đo được của chính sách họ ban hành, thì câu nói của Trump có hoàn toàn vô căn cứ không?
Bài này lật lại hồ sơ ấy, từ thời Andrew Jackson qua hai cuộc thế chiến và Chiến tranh Lạnh tới hôm nay, để trả lời một câu hỏi: xét tổng thể, chính sách của Đảng Dân Chủ đã phục vụ hay phá hoại nước Mỹ? Nếu câu trả lời làm bạn khó chịu thì lịch sử vốn không có bổn phận làm ai hài lòng.
Cái nôi của sự áp bức.
Đảng Dân Chủ trong hình hài hiện đại ra đời quanh Andrew Jackson: vị tướng, vị Tổng thống, và cũng là chủ của hơn một trăm người nô lệ ở đồn điền Hermitage lúc ông qua đời. Jackson bảo vệ chế độ nô lệ như quyền thiêng liêng của tiểu bang. Năm 1830, ông ký Đạo luật Di dời Người Da Đỏ, văn kiện dẫn tới Con Đường Nước Mắt. Trong thập niên 1830, khoảng 100.000 người Cherokee, Choctaw, Creek, Chickasaw và Seminole bị đuổi khỏi đất tổ. Riêng người Cherokee đã có chừng 4.000 người chết dọc đường.
Những người kế nhiệm cũng vậy. James K. Polk, bản thân là chủ nô, phát động chiến tranh Mexico năm 1846, và phe chống nô lệ thời ấy coi đó là cuộc chiến giành đất cho chế độ nô lệ. Franklin Pierce ký Đạo luật Kansas-Nebraska năm 1854, xé bỏ Thỏa hiệp Missouri và mở cửa cho nô lệ tràn vào những vùng đất mới.
James Buchanan, Tổng thống cuối cùng trước Nội chiến, đứng nhìn quốc gia vỡ vụn mà không nhấc một ngón tay. Ông còn ủng hộ phán quyết Dred Scott năm 1857, phán quyết tuyên bố người da đen "không có quyền gì mà người da trắng buộc phải tôn trọng".
Đảng Cộng Hòa ra đời năm 1854 với một mục tiêu rõ ràng: chặn chế độ nô lệ lan sang các lãnh thổ mới. Abraham Lincoln trả giá cho lý tưởng ấy bằng mạng sống, và bốn triệu người được giải phóng. Nhưng Đảng Dân Chủ không chịu thua.
Sau Nội chiến, các nghị viện tiểu bang miền Nam do họ nắm dựng nên luật Jim Crow và giữ một chế độ apartheid kiểu Mỹ suốt gần một thế kỷ. Ku Klux Klan, do các cựu binh Liên minh miền Nam lập ra ngay sau chiến tranh, theo lời sử gia Eric Foner của Đại học Columbia, "trên thực tế là một lực lượng quân sự phục vụ quyền lợi của Đảng Dân Chủ".
Đảng hôm nay tự nhận là người bảo hộ các nhóm thiểu số chính là đảng đã nô dịch, tra tấn, treo cổ và tước đoạt nhân phẩm của những cộng đồng ấy suốt hơn một thế kỷ. Sách sử Mỹ ghi rõ điều đó. Ai bảo bạn rằng "hai đảng đã hoán đổi" để xóa sạch lịch sử ấy, hãy hỏi họ Đảng Dân Chủ đã chính thức xin lỗi vì chế độ nô lệ vào ngày nào. Với tư cách một đảng, họ chưa bao giờ xin lỗi.
Woodrow Wilson và guồng máy chính quyền.
Nửa thế kỷ sau là Woodrow Wilson, nhà trí thức, giáo sư Princeton, người được giới cấp tiến tôn như bậc thánh. Dưới vỏ bọc "cấp tiến", Wilson làm ba việc thay đổi nước Mỹ mãi mãi, và chẳng việc nào theo hướng tốt.
Việc thứ nhất là tái lập chính sách kỳ thị chủng tộc trong chính phủ liên bang. Công chức da đen bị tách khỏi đồng nghiệp da trắng, bị dồn vào phòng riêng, bị hạ cấp. Tháng 11 năm 1914, khi William Monroe Trotter dẫn một phái đoàn người da đen tới phản đối, Wilson đáp rằng sự phân biệt ấy "chẳng hề sỉ nhục, trái lại còn là một lợi ích". Năm sau, ông cho chiếu The Birth of a Nation, bộ phim ca ngợi Ku Klux Klan, ngay trong Tòa Bạch Ốc. Vị Tổng thống "cấp tiến" nhất thời ấy đã kéo lùi dân quyền hàng thập niên.
Việc thứ hai: năm 1913, Wilson ký đạo luật đầu tiên đánh thuế lợi tức theo Tu Chính Án 16, rồi cuối năm ấy ký Đạo luật Dự trữ Liên bang. Từ đó chính phủ có phương tiện để hút máu người dân và điều khiển nền kinh tế theo ý muốn chính trị. Mọi đợt bành trướng chính quyền về sau, New Deal, Great Society hay Obamacare, đều đứng trên cái nền Wilson đã xây.
Việc thứ ba: Wilson tái cử năm 1916 với khẩu hiệu "Ông ấy giữ chúng ta ngoài vòng chiến", rồi chưa đầy nửa năm sau kéo nước Mỹ vào Đệ nhất Thế chiến, một cuộc chiến mà Mỹ không có lợi ích sống còn. Ông thất bại thảm hại khi dựng trật tự hậu chiến. Hòa ước Versailles mà ông góp tay soạn để lại một châu Âu bất ổn tới mức gieo mầm cho Đệ nhị Thế chiến, còn Hội Quốc Liên, đứa con tinh thần của ông, bị chính Thượng viện Mỹ khước từ. Sự kiêu ngạo tin rằng mình thiết kế lại được cả thế giới ấy thành khuôn mẫu tác hại cho những cuộc phiêu lưu quân sự thất bại của các Tổng thống Dân Chủ về sau.
Roosevelt và huyền thoại New Deal.
Không huyền thoại nào được canh giữ kỹ bằng huyền thoại Franklin Delano Roosevelt. Câu chuyện chính thống, dạy trong trường học và nhắc lại trong phim tài liệu, kể rằng FDR đã cứu nước Mỹ khỏi Đại Khủng hoảng. Câu chuyện ấy đẹp, nhưng đem đối chiếu với dữ kiện thì nó rạn từ mọi phía.
Năm 1939, sáu năm sau khi New Deal bắt đầu, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ vẫn là 17,2%: sau sáu năm chính phủ chi tiêu ồ ạt, cứ sáu người lao động vẫn có một người không có việc. Kinh tế Mỹ chỉ thật sự hồi sinh khi guồng máy chiến tranh khởi động, với bom đạn và tàu chiến.
Thomas Sowell lập luận từ lâu rằng nhiều chính sách New Deal đã kéo dài Đại Khủng hoảng thay vì chữa nó. Năm 2004, hai kinh tế gia Harold Cole và Lee Ohanian ở UCLA tính ra con số: thêm bảy năm. Giá cả bị ấn định, lương bị kiểm soát. Năm 1933, hơn sáu triệu con heo bị giết để đẩy giá thịt lên trong lúc người dân xếp hàng xin cứu đói. Thuế suất lợi tức cao nhất lên 79% năm 1936 rồi 94% năm 1944, bóp nghẹt đầu tư tư nhân.
Di sản đáng lo nhất của FDR lại nằm ngoài kinh tế, ở hai quyết định mà lịch sử không được phép quên.
Quyết định thứ nhất là Sắc lệnh Hành pháp 9066 năm 1942, đưa khoảng 120.000 người gốc Nhật, hai phần ba trong số đó là công dân Mỹ, vào các trại tập trung, không xét xử, không tội danh, chỉ vì họ mang dòng máu Nhật. Đó là vụ vi phạm hiến pháp trắng trợn nhất thế kỷ 20, và nó mang chữ ký của một Tổng thống Dân Chủ.
Quyết định thứ hai là Hội nghị Yalta tháng 2 năm 1945. Ở đó FDR, bệnh nặng và kiệt sức, chỉ còn hai tháng để sống, trao Đông Âu cho Stalin như một món quà. Hàng chục triệu người Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary, Romania bị bán đứng cho chế độ cộng sản. Bốn mươi lăm năm Chiến tranh Lạnh, hàng triệu sinh mạng, hàng ngàn tỷ Mỹ kim chi phí quân sự đều bắt nguồn từ cái bắt tay của FDR với gã đồ tể ở Yalta. Vậy mà người ta vẫn gọi ông là "vĩ đại".
Lyndon Johnson: khi thiện chí phá hủy cả một thế hệ.
Nếu FDR mở rộng chính quyền thì Lyndon Baines Johnson biến nó thành một con quái vật. Chương trình Great Society của ông được bán cho người dân như một cuộc chiến chống nghèo đói, nghe thật cao quý. Các con số kể một câu chuyện khác.
Theo thống kê chính thức, tỷ lệ nghèo ở Mỹ đã giảm từ 22,4% năm 1959 xuống 19% năm 1964, trước khi có Great Society. Một công trình khảo cứu năm 2026 của hai kinh tế gia Richard Burkhauser và Kevin Corinth còn cho thấy từ 1939 tới 1963, tỷ lệ nghèo đã giảm 29 điểm phần trăm. Tăng trưởng kinh tế và sáng kiến cá nhân đang làm tốt việc của chúng.
Nhưng LBJ không chờ được. Ông dựng một hệ thống phúc lợi khổng lồ, và thay vì giải phóng người nghèo, hệ thống ấy nhốt họ vào cái bẫy phụ thuộc. Chính phủ thưởng cho gia đình không cha, cắt trợ cấp nếu người mẹ lấy chồng, phạt người chăm chỉ bằng cách lấy lại phúc lợi.
Walter Williams đau đớn ghi lại kết quả: năm 1960, chỉ 22% trẻ em da đen lớn lên trong gia đình chỉ có cha hoặc mẹ; năm mươi năm sau, con số ấy là hơn 70%. Một cộng đồng đã sống sót qua xiềng xích, qua Jim Crow, qua kỳ thị có hệ thống, cuối cùng lại tan vỡ vì tấm chi phiếu trợ cấp. Đó là thành quả thật của Great Society.
Rồi đến Việt Nam. Kennedy nâng số cố vấn quân sự Mỹ ở miền Nam từ chưa tới một ngàn lên khoảng 16.000. Johnson leo thang lên hơn nửa triệu quân, dựa vào sự kiện Vịnh Bắc Bộ. Vụ tấn công thứ hai ngày 4 tháng 8 năm 1964, cái cớ để Quốc Hội trao cho ông quyền đánh lớn, về sau được chính Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) xác nhận là không hề xảy ra.
58.220 thanh niên Mỹ tử trận, hàng triệu người Việt chết, nước Mỹ bị xé toạc. Người ta hay gắn cuộc chiến ấy với tên Nixon, nhưng nó là cuộc chiến của Đảng Dân Chủ từ khởi đầu tới cao trào.
Jimmy Carter và món quà dành cho Ayatollah.
Nếu phải chọn một nhiệm kỳ làm bản cáo trạng cho tài cai trị của Đảng Dân Chủ thì Jimmy Carter thắng mà không cần bỏ phiếu.
Năm 1980, lạm phát 13,5%, lãi suất cơ bản của ngân hàng lên 21,5%, thất nghiệp 7,5%, và cái gọi là "chỉ số khổ đau" lập kỷ lục. Người Mỹ xếp hàng dài cả dặm để đổ xăng, giá cả leo thang từng tháng, và giấc mơ Mỹ của hàng triệu gia đình trung lưu hóa thành cơn ác mộng.
Thảm họa thật của Carter nằm ở đối ngoại, và nó còn ám nước Mỹ tới hôm nay. Ông phản bội Quốc vương Iran, đồng minh chiến lược của Mỹ gần ba thập niên, nhân danh "nhân quyền". Kết quả là Cách mạng Hồi giáo 1979, nước Cộng hòa Hồi giáo Iran, và gần nửa thế kỷ của một chính quyền khủng bố. 52 người Mỹ bị bắt làm con tin suốt 444 ngày. Chiến dịch giải cứu tháng 4 năm 1980 thất bại nhục nhã giữa sa mạc, tám quân nhân Mỹ thiệt mạng. Cuối năm 1979, Nga Sô xâm lăng Afghanistan, vì Kremlin nhìn vào Tòa Bạch Ốc và thấy sự bất lực.
Iran, kẻ thù số một của nước Mỹ cho tới khi Trump tuyên bố nó "đã chết", chính là sản phẩm trực tiếp của Jimmy Carter. Không có sự phản bội ấy thì không có Ayatollah Khomeini. Không có Khomeini thì không có Hezbollah, không có Hamas sống bằng tiền Tehran, không có một chương trình nguyên tử trong tay giáo sĩ, và không có bốn thập niên máu lửa ở Trung Đông. Đặt Iran và Đảng Dân Chủ cạnh nhau trong cùng một câu, Trump đang nhắc lại lịch sử.
Bill Clinton: nụ cười Hollywood và ba viên đạn vào tim nước Mỹ.
Clinton là bậc thầy chính trị, duyên dáng và thông minh, nên càng nguy hiểm. Ông cười tươi trên truyền hình trong lúc ký ba văn kiện bắn thẳng vào kinh tế và an ninh quốc gia Hoa Kỳ.
Viên đạn thứ nhất là NAFTA, Hiệp ước Mậu dịch Tự do Bắc Mỹ. Clinton vận động Quốc Hội thông qua và ký đạo luật thi hành tháng 12 năm 1993. Hiệp ước có hiệu lực từ đầu năm 1994 và mở đường cho hàng trăm ngàn việc làm kỹ nghệ chảy sang Mexico. Cả vùng Rust Belt, Michigan, Ohio, Pennsylvania, Wisconsin, bị bỏ rơi. Những thành phố từng nhộn nhịp thành thị trấn ma. Những gia đình ba đời làm thép, làm xe hơi bỗng thấy nhà máy đóng cửa, đồng nghiệp mất việc, con cái hết tương lai. Người biến NAFTA thành luật là một Tổng thống Dân Chủ, phản bội chính khối cử tri công nhân của đảng mình.
Viên đạn thứ hai là việc bãi bỏ Glass-Steagall. Đạo luật này, dựng lên sau Đại Khủng hoảng để cấm ngân hàng đem tiền gửi của dân đi đánh bạc, bị gỡ bỏ năm 1999 bằng đạo luật Gramm-Leach-Bliley mà Clinton ký. Phố Wall hân hoan. Ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư được nhập làm một, phình thành những đại công ty tài chính "quá lớn để phá sản", và bong bóng tín dụng cứ thế phồng lên. Chín năm sau, kinh tế toàn cầu sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008. Kinh tế gia Joseph Stiglitz, người từng chủ trì Hội đồng Cố vấn Kinh tế của chính Clinton, xếp việc bãi bỏ năm 1999 vào năm sai lầm lớn dẫn tới khủng hoảng, và thượng nghị sĩ Dân Chủ Elizabeth Warren về sau còn đòi khôi phục đạo luật này.
Viên đạn thứ ba là đưa Trung cộng vào WTO. Clinton vận động không mệt mỏi để Quốc Hội trao cho Bắc Kinh quy chế mậu dịch bình thường vĩnh viễn năm 2000, mở đường cho Trung cộng vào Tổ chức Mậu dịch Thế giới cuối năm 2001. Ông tin, ngây thơ hoặc tính toán nguy hiểm, rằng mậu dịch sẽ dân chủ hóa Bắc Kinh. Hai thập niên sau, Trung cộng không dân chủ hơn một mảy may, nhưng đã thành đối thủ chiến lược hàng đầu của Mỹ: ăn cắp bằng sáng chế và bí quyết kỹ thuật trị giá hàng trăm tỷ Mỹ kim, thao túng tiền tệ, xây quân đội hiện đại và đắp đảo nhân tạo trên Biển Đông. Người mở cửa cho con rồng ấy là Bill Clinton.
Barack Obama và tám năm "chuyển hóa"
Năm ngày trước cuộc bầu cử 2008, Obama hứa sẽ "chuyển hóa căn bản nước Mỹ", và ở điểm này ông nói thật. Tám năm của ông quả đã đổi nước Mỹ. Vấn đề là đổi theo hướng nào.
Về kinh tế, thời Obama là cuộc phục hồi yếu nhất sau một cuộc suy trầm kể từ Đệ nhị Thế chiến. Tổng sản lượng nội địa (GDP) chỉ tăng chừng 2% mỗi năm, so với mức trung bình trên 3% từ sau thế chiến. Tính theo từng năm, ông là Tổng thống đầu tiên từ thời Hoover không có năm nào tăng trưởng tới 3%. Nợ quốc gia gần gấp đôi, từ 10.600 tỷ lên 19.900 tỷ Mỹ kim. Ông nhận một nền kinh tế đang suy trầm và để lại một cuộc phục hồi ì ạch.
Với Obamacare, câu hứa "Nếu bạn thích chương trình bảo hiểm của mình, bạn có thể giữ nó" được PolitiFact, tổ chức kiểm chứng thiên tả, chọn là Lời Nói Dối Của Năm 2013. Riêng năm cuối nhiệm kỳ, phí bảo hiểm chuẩn trên HealthCare.gov tăng trung bình 25%. Mức khấu trừ tăng gấp đôi [cần dẫn chứng]. Hàng triệu người mất chương trình bảo hiểm cũ. Và lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, chính phủ liên bang bắt mọi công dân mua một sản phẩm thương mại, không mua thì bị phạt. Tự do lựa chọn nhường chỗ cho cưỡng bức.
Thiệt hại nặng nhất của Obama nằm ở đối ngoại. Ông rút hết quân khỏi Iraq cuối năm 2011, để lại một khoảng trống quyền lực mà ISIS lao vào lấp. Chúng chiếm gần một phần ba lãnh thổ Iraq và Syria, chặt đầu con tin Mỹ rồi tung video lên mạng. Năm 2012, Obama vạch "lằn ranh đỏ" về vũ khí hóa học ở Syria. Tháng 8 năm 2013, Assad dùng khí sarin ở ngoại ô Damascus, và Obama không ra đòn mà nhận một thỏa thuận do Nga dàn xếp. Đồng minh mất niềm tin, kẻ thù hết sợ, và uy tín siêu cường của Mỹ bốc hơi.
Rồi đến "kiệt tác" ngoại giao: thỏa ước nguyên tử Iran năm 2015. Thỏa ước ấy giải tỏa cho Tehran hàng chục tỷ Mỹ kim tài sản bị phong tỏa, con số phe chống đưa ra là 150 tỷ. Đầu năm 2016, chính quyền Obama trả thêm cho Iran 1,7 tỷ Mỹ kim để dàn xếp một vụ kiện từ thời Shah, toàn bộ bằng tiền mặt ngoại tệ, và 400 triệu đầu tiên tới Tehran đúng ngày Iran thả bốn tù nhân Mỹ. Đổi lại là một thỏa ước cho Iran tiếp tục làm giàu uranium, với những giới hạn chính hết hạn sau 10 tới 15 năm.
Chính Ngoại trưởng John Kerry nói tại Davos tháng 1 năm 2016: "Tôi nghĩ một phần sẽ rơi vào tay Vệ binh Cách mạng hoặc những tổ chức khác, trong đó có những nhóm bị liệt là khủng bố." Máu người vô tội ở Syria, Yemen, Lebanon, Israel có dấu vân tay của Barack Obama.
Joe Biden: khi mọi thứ sụp đổ cùng lúc
Cuối cùng là Joe Biden, người có nhiệm kỳ đọc như bản tổng hợp mọi sai lầm Dân Chủ trước đó, lặp lại trong phiên bản tệ hơn, nhanh hơn và phá hoại hơn.
Ngay ngày nhậm chức, Biden ký hàng loạt lệnh đảo ngược chính sách biên giới của Trump: ngưng xây tường, chấm dứt "Remain in Mexico", thu hẹp thẩm quyền ICE. Trong bốn tài khóa 2021–2024, CBP ghi nhận 8,72 triệu lượt chặn bắt ở biên giới phía Nam, chưa kể khoảng 2 triệu người lọt qua mà không bị bắt, mức chưa từng có trong lịch sử Hoa Kỳ. Đó là một cuộc xâm lăng được mời gọi.
Về kinh tế, gói American Rescue Plan 1.900 tỷ Mỹ kim được bơm vào khi kinh tế đã bắt đầu hồi phục. Ngay tháng 2 năm 2021, Larry Summers, cựu Bộ trưởng Ngân khố thời Clinton, đã cảnh báo trên Washington Post rằng một gói kích thích ở quy mô gần với thời Đệ nhị Thế chiến sẽ châm ngòi cho áp lực lạm phát. Tháng 6 năm 2022, lạm phát lên 9,1%, mức cao nhất trong 40 năm. Giá thực phẩm tăng hơn 20%, giá nhà vượt tầm với của cả một thế hệ.
Người chịu thiệt nặng nhất là người nghèo, người già sống bằng lợi tức cố định, gia đình trung lưu chắt bóp từng đồng, tức chính những người Đảng Dân Chủ nói họ bảo vệ; giới tỷ phú Dân Chủ ở Martha’s Vineyard thì chẳng hề hấn gì. Lạm phát là thứ thuế tàn nhẫn nhất, thứ mà Milton Friedman gọi là thuế không cần luật: nó chẳng cần Quốc Hội duyệt và đánh mạnh nhất vào người yếu nhất.
Cuộc rút quân khỏi Afghanistan tháng 8 năm 2021 là vết nhơ lớn nhất trên uy tín quân sự Mỹ kể từ Sài Gòn 1975. Taliban chiếm cả nước trong vài ngày. Mười ba quân nhân Mỹ hy sinh trong vụ đánh bom tự sát ở phi trường Kabul. Hàng trăm công dân Mỹ và hàng chục ngàn người Afghanistan từng giúp quân Mỹ bị bỏ lại. Theo báo cáo của Ngũ Giác Đài, khoảng 7 tỷ Mỹ kim quân dụng do Mỹ tài trợ, gồm súng, xe bọc sắt và phi cơ, kể cả trực thăng Black Hawk, rơi vào tay khủng bố. Hình ảnh người Afghanistan bám càng phi cơ C-17 rồi rơi xuống chết sẽ đi vào lịch sử như biểu tượng của thời Biden.
Về năng lượng, ngay ngày đầu Biden hủy giấy phép đường ống Keystone XL, một tuần sau tạm ngưng cho thuê khai thác dầu hỏa và khí đốt mới trên đất liên bang, rồi siết quy định khí thải. Giá xăng trung bình từ 2,39 Mỹ kim một gallon lúc ông nhậm chức vọt lên trên 5 Mỹ kim vào tháng 6 năm 2022. Trong khi Mỹ tự trói tay chân, Putin và OPEC nắm thị trường năng lượng thế giới. Một quốc gia ngồi trên kho năng lượng lớn nhất hành tinh bị chính chính phủ mình bắt đi xin dầu ở Venezuela và Saudi Arabia. Nghe thì phi lý, nhưng đó là chính sách Dân Chủ.
Khuôn mẫu hay sự trùng hợp?
Vậy đây chỉ là những sai lầm rời rạc, hay là một khuôn mẫu hành vi nhất quán? Nhìn suốt hai thế kỷ thì câu trả lời đã rõ: ba khuynh hướng lặp lại qua các đời Tổng thống Dân Chủ.
Khuynh hướng thứ nhất là chính quyền phình ra không ngừng. Thuế lợi tức của Wilson, New Deal của FDR, Great Society của LBJ, Obamacare của Obama, các gói chi tiêu ngàn tỷ của Biden: thế hệ Dân Chủ nào cũng tìm cách phình guồng máy, tăng chi tiêu, tăng kiểm soát, tăng phụ thuộc. Tháng 8 năm 2026, nợ quốc gia đã vượt 40 ngàn tỷ Mỹ kim, và phần lớn gánh nặng đến từ những chương trình Đảng Dân Chủ lập ra rồi không bao giờ chịu cắt.
Khuynh hướng thứ hai là sự yếu hèn trước kẻ thù bên ngoài: FDR ở Yalta, Kennedy và Johnson ở Việt Nam, Carter với Iran, Obama với ISIS, Biden ở Afghanistan. Mỗi lần một Tổng thống Dân Chủ đối mặt kẻ thù của nước Mỹ, dù là Stalin, Khomeini, ISIS hay Taliban, kẻ thù ấy mạnh lên, nước Mỹ yếu đi, và thế giới nguy hiểm hơn.
Khuynh hướng thứ ba là chia để trị: chủ nô với nô lệ, da trắng với da đen dưới Jim Crow, giàu với nghèo qua đấu tranh giai cấp, và hôm nay là chính trị bản sắc, chia người Mỹ theo chủng tộc, giới tính, xu hướng tính dục rồi dán cho mỗi nhóm nhãn "nạn nhân" hay "kẻ áp bức". Đảng Dân Chủ chưa bao giờ đoàn kết nước Mỹ. Họ sống nhờ chia rẽ, vì một dân tộc đoàn kết sẽ không cần tới họ.
Vậy sao một nửa nước Mỹ vẫn chưa thấy?
Nếu hồ sơ tệ đến thế, sao Đảng Dân Chủ vẫn giành được gần nửa số phiếu? Câu trả lời, buồn thay, nằm ở sự kiểm soát.
Trước hết là kiểm soát thông tin. Cuộc thăm dò năm 2022 của Đại học Syracuse cho thấy chỉ 3,4% ký giả Mỹ tự nhận là Cộng Hòa. Trong mùa bầu cử 2016, hơn 96% tiền quyên góp của giới làm báo cho các ứng cử viên tổng thống chảy về Hillary Clinton. Khi những người gác cổng thông tin đứng cùng một phía, dư luận được chế tạo ra nhiều hơn là được phản ảnh. Một nửa nước Mỹ sống giữa một luồng tin tức trong đó Đảng Dân Chủ luôn đúng, Trump luôn sai, và ai đặt câu hỏi đều bị dán nhãn "quá khích".
Thứ hai là kiểm soát giáo dục. Ở các khoa nhân văn và khoa học xã hội của đại học Mỹ, tỷ lệ giáo sư Dân Chủ so với Cộng Hòa từ 10 trên 1 trở lên. Bốn năm được một phe tư tưởng duy nhất đào tạo, người trẻ ra trường mang theo niềm tin nhiều hơn óc phê phán, mà niềm tin thì không cần bằng chứng.
Thứ ba là kiểm soát bằng sự phụ thuộc. Theo Sở Kiểm tra Dân số, năm 2024 có 31% người Mỹ, tức hơn một trăm triệu người, nhận ít nhất một khoản trợ cấp dành cho người lợi tức thấp. Ít ai bỏ phiếu chống lại đảng hứa tăng phúc lợi, cũng như chẳng ai cắn bàn tay cho mình ăn. Đảng Dân Chủ thắng bằng cách tạo ra ngày càng nhiều người phải trông vào họ mà sống. Đó là kiểu quản trị đồn điền mới, xiềng xích vô hình mà sự trói buộc thì có thật.
Tổng thống Trump nói thẳng, không vòng vo, không dùng uyển ngữ ngoại giao. Vì vậy khi ông gọi Đảng Dân Chủ là "kẻ thù", một nửa nước Mỹ sốc. Nửa còn lại, những người mất việc vì NAFTA, mất bảo hiểm vì Obamacare, mất con vì fentanyl tràn qua biên giới mở, mất tiền tiết kiệm vì lạm phát thời Biden, mất niềm tin vì truyền thông nói dối, nghe Trump và gật đầu. Họ gật đầu vì đã sống qua hậu quả.
250 năm ấy kéo từ chế độ nô lệ và Jim Crow tới Yalta và Sài Gòn, từ con tin ở Tehran tới những thi thể ở Kabul, từ nhà máy đóng cửa ở Detroit tới giá xăng trên 6 Mỹ kim ở California. Bạn có thể ghét cách ông Trump nói và phản đối ngôn từ của ông. Nhưng hãy đọc hết những gì lịch sử ghi lại, bản gốc chưa qua biên tập thay vì bản CNN kể hay bản giáo sư Harvard giảng, rồi đối diện một sự thật khó chịu.
Có lẽ tổng thống Trump không quá khích khi nói điều đó. Có lẽ ông chỉ là người duy nhất dám nói to điều lịch sử đã thì thầm suốt 250 năm.
AnhMinh Nguyen(813) 570-0122
(VACA)











