Khi các đế quốc tự sát – Tác giả Vô Danh

"Các nền văn minh chết vì tự sát, chớ không phải vì bị giết." (Arnold J. Toynbee)

Đế quốc lớn ít khi chết vì một trận thua. Phần nhiều đã mục từ bên trong.

La Mã tự hủy suốt mấy thế kỷ: đạo đức suy đồi, nội bộ chia rẽ, lãnh thổ quá rộng để giữ, các sắc dân thu nạp không đồng hóa được. Khi quân Goth và Vandal tới, cổng thành đã có người mở sẵn. Đế quốc Ottoman, đỉnh cao quyền lực Hồi giáo suốt sáu thế kỷ, bị chia năm xẻ bảy sau năm 1918, nhưng đã mục cả trăm năm trước đó vì tham nhũng và mâu thuẫn giữa các sắc dân. Đế quốc Anh thắng cả hai cuộc thế chiến mà vẫn tự tay trao trả thuộc địa, vì người Anh đã hết ý chí giữ.

Liên Bang Sô Viết, với kho vũ khí nguyên tử lớn nhất thế giới, chưa thua Tây phương trận nào. Nó sụp vì kinh tế bệnh hoạn và cái dối trá từ trên xuống dưới, tới mức không ai còn tin vào điều gì. Tối ngày 25 tháng 12 năm 1991, lá cờ búa liềm trên nóc Điện Kremlin được kéo xuống, và siêu cường thứ nhì thế giới biến mất trong một tiếng thở dài.

Ba Tư, Mông Cổ, Tây Ban Nha, Áo-Hung cũng vậy: đế quốc nào cũng mục từ bên trong trước khi bị chôn từ bên ngoài. Kẻ thù chỉ tới đào huyệt cho một cơ thể đã ngừng thở.

Hoa Kỳ, đế quốc lớn nhất của văn minh Tây phương và thành trì sau cùng của tinh thần Khai Sáng, nền hiến trị, tự do cá nhân và kinh tế tự do, nay đang đi lại con đường ấy. Trung Cộng và Nga là đối thủ đáng gờm, nhưng mối nguy lớn nhất nằm ngay trong nhà: nước Mỹ đang tự mở cổng thành cho những lực lượng sẽ đổi hẳn bản chất của mình, nhân danh "lòng tốt", "đa dạng" và "bao dung".

Nếu khuynh hướng này không bị đảo ngược, nước Mỹ sẽ sụp, sớm hay muộn mà thôi, và văn minh Tây phương sẽ ngã theo. Khi La Mã tàn, còn có Đông La Mã rồi Âu châu Thiên Chúa giáo đỡ lấy ngọn đuốc. Lần này thì không còn ai: Âu châu đang tự hủy bằng làn sóng di dân Hồi giáo, Canada, Úc, Tân Tây Lan theo vết xe đổ ấy, còn nền văn minh đứng chờ thế chỗ lại mang những giá trị đối nghịch với 2.500 năm văn minh Tây phương.

Bài này không nhằm gây chiến với tôn giáo hay sắc tộc nào. Hàng triệu người Hồi giáo Mỹ là công dân gương mẫu. Có điều, quý mến từng người là một chuyện, xét cả một khối dân và một hệ tư tưởng lại là chuyện khác. Khi "chính trị đúng đắn" bịt miệng sự thật và người lên tiếng bị dán nhãn "Islamophobe", giới trí thức im lặng cũng là phản quốc. Tôi viết bài này vì bổn phận của người cầm bút: dựa trên dữ kiện để nói về hậu quả của hơn sáu thập niên quyết định di trú.

Câu chuyện bắt đầu năm 1952 với Đạo Luật McCarran-Walter, do Thượng Nghị Sĩ Pat McCarran và Dân Biểu Francis Walter, hai nhà lập pháp Đảng Dân Chủ, đỡ đầu giữa thời Chiến Tranh Lạnh. Đạo luật giữ hệ thống hạn ngạch theo nguồn gốc quốc gia, dựa trên thành phần dân số Mỹ trong cuộc kiểm tra dân số năm 1920. Dù bị chê là kỳ thị, đó là cái lọc giữ cho dân số và văn hóa nước Mỹ ít thay đổi: ưu tiên Bắc Âu và Tây Âu, nơi có chung di sản Thiên Chúa giáo, luật pháp Anglo-Saxon và tinh thần Khai Sáng, và hạn chế di dân từ những vùng khác hẳn, trong đó có các nước Hồi giáo.

Đạo luật còn có Mục 212(f), cho Tổng Thống quyền đình chỉ việc nhập cảnh của bất cứ nhóm người ngoại quốc nào có hại cho quyền lợi quốc gia. Tổng Thống Trump đã dùng điều khoản này năm 2017, rồi năm 2025; từ đầu năm 2026, lệnh hạn chế áp dụng cho 39 quốc gia. Tổng Thống Truman phủ quyết đạo luật, nhưng Quốc Hội bác phủ quyết với đa số lớn ở cả hai viện (278–113 và 57–26). Thời ấy, cả hai đảng đều coi việc giữ biên cương văn hóa là chuyện hệ trọng.

Năm 1965, giữa làn sóng cải cách dân quyền, Đạo Luật Hart-Celler xóa bỏ hệ thống ấy, thay bằng thứ tự ưu tiên: khoảng 74% chiếu khán cho đoàn tụ gia đình, 20% cho người có tay nghề, 6% cho người tỵ nạn, mỗi nước tối đa 20.000 một năm, bất kể địa dư, tôn giáo hay văn hóa. Cả hai đảng bỏ phiếu thuận áp đảo, và những người đỡ đầu ngây thơ tới mức chết người.

Trong lễ ký, Tổng Thống Johnson tuyên bố: "Đây không phải một đạo luật cách mạng. Nó không ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng triệu người." Thượng Nghị Sĩ Ted Kennedy cam đoan: "Thành phần sắc tộc của đất nước này sẽ không bị đảo lộn." Cả hai đều sai.

Chưa tới 10 năm sau, di dân từ Âu châu sụt mạnh, còn di dân từ Á châu, Trung Đông và Phi châu tăng vọt. Diện đoàn tụ gia đình, mà phe muốn siết di trú gọi là "chain migration" (di dân dây chuyền), lăn như trái banh tuyết: mỗi người tới lại bảo lãnh vợ con, anh chị em, cha mẹ. Theo sử gia Edward E. Curtis IV, từ 1966 đến 1997 có khoảng 2,78 triệu người từ các nước đông dân Hồi giáo nhập cư vào Mỹ, chừng 1,1 triệu trong số đó là người Hồi giáo. Đó mới là khởi đầu.

Trách nhiệm không thuộc riêng Đảng Dân Chủ. Ba phần tư số Thượng Nghị Sĩ Cộng Hòa bỏ phiếu thuận cho Hart-Celler. Tổng Thống Reagan ký luật ân xá năm 1986; hai Tổng Thống Bush mở các chương trình định cư người tỵ nạn Somali, Iraq, Afghanistan, và qua nhiều đời Tổng Thống của cả hai đảng, hàng chục ngàn người Somali được đưa về Minnesota. Chính quyền Obama nâng mức tối đa nhận người tỵ nạn cho tài khóa 2017 lên 110.000, cao nhất kể từ năm 1995, và nhận người tỵ nạn Syria dù hơn nửa số thống đốc phản đối vì lo việc điều tra lý lịch.
Nếu Đảng Dân Chủ là kiến trúc sư của chính sách di trú rộng cửa, thì Đảng Cộng Hòa là nhà thầu ngoan ngoãn làm đúng theo bản vẽ.

Muốn thấy tương lai nước Mỹ, cứ nhìn nước Anh, cái nôi của những giá trị lập quốc Mỹ. Cuộc kiểm tra dân số năm 2021 ghi nhận 3,9 triệu người Hồi giáo ở Anh và xứ Wales, tức 6,5% dân số, tăng từ 4,9% năm 2011. Ở London, kinh đô của đế quốc từng cai trị một phần tư trái đất, tỷ lệ ấy là 15% và Thị Trưởng Sadiq Khan là người Hồi giáo; ở Tower Hamlets là 39,9%, ở Newham 34,8%. Ảnh hưởng của cộng đồng này hiện rõ trong quyết định của các hội đồng địa phương .

Đáng lo hơn là những "xã hội song song" sống theo giá trị riêng, có khi theo cả luật lệ riêng. Các "hội đồng Sharia" không được luật pháp công nhận nhưng vẫn phân xử chuyện hôn nhân, ly dị, thừa kế; bản phúc trình độc lập năm 2018 cho Bộ Nội Vụ Anh ước tính có từ 30 đến 85 hội đồng như vậy, với những phán quyết bất lợi cho phụ nữ. Khi cộng đồng di dân đã đủ đông, người ta thôi trông chờ họ hội nhập, và người bản xứ phải thích nghi hoặc dọn đi. Hiện tượng "white flight" ấy thường bị quy cho kỳ thị chủng tộc; tôi thấy đó là phản ứng tự nhiên của những người bỗng thành thiểu số trên quê hương mình.

Pháp có khoảng 5,7 triệu người Hồi giáo (8,8% dân số, theo ước tính của Pew cho năm 2016). Nhiều khu ngoại ô Paris, Lyon, Marseille thành "khu nhạy cảm", nơi cảnh sát và công quyền khó hoạt động, và các cuộc bạo loạn năm 2005 và 2023 bùng lên từ những khu đông dân Hồi giáo ấy.

Thụy Điển, từng là thiên đường an sinh Bắc Âu, sau các làn sóng di dân Hồi giáo từ Syria, Iraq, Afghanistan và Somalia đã thành "thủ đô bạo lực băng đảng" của Âu châu, với nổ bom và bắn nhau hàng tuần ở những khu đông di dân. Năm 2023, Thủ Tướng Ulf Kristersson nói thẳng: "Chính sách di trú thiếu trách nhiệm và việc hội nhập thất bại đã đưa chúng ta tới tình cảnh này." Thụy Điển nay siết luật, đẩy mạnh việc trả về người bị bác đơn tỵ nạn, và trả tới 350.000 krona cho mỗi người lớn chịu hồi hương: lời thừa nhận muộn màng rằng cuộc thí nghiệm đa văn hóa đã thất bại.

Đức có khoảng 5 triệu người Hồi giáo (6,1% dân số, theo Pew cho năm 2016), phần đông là con cháu những "công nhân khách" Thổ Nhĩ Kỳ thời hậu chiến. Năm 2015, Thủ Tướng Angela Merkel mở cửa biên giới, và chỉ trong hai năm Đức nhận hơn một triệu đơn xin tỵ nạn, đa số từ các nước Hồi giáo. Từ đó, đảng cực hữu Alternative für Deutschland (AfD) đi từ bên lề vào giữa chính trường và thành đảng lớn thứ nhì sau cuộc bầu cử tháng 2 năm 2025.

Từ năm ngoái tới nay, khuynh hướng ấy càng lộ rõ. Ngày 15 tháng 5 năm 2026, ngày người Palestine tưởng niệm Nakba, sáu người leo lên tầng một Tháp Eiffel và trải một lá cờ Palestine bốn thước trên ba thước; cả sáu bị bắt. Nhóm nhận trách nhiệm là Extinction Rebellion, một phong trào môi sinh cánh tả, và nữ dân biểu Âu châu Rima Hassan của đảng cực tả La France Insoumise lên tiếng ủng hộ. Cánh tả Tây phương và phong trào thân Palestine nay đi chung một đường, tới mức treo cờ Palestine lên cả biểu tượng của nước Pháp.

Lá cờ ấy không tự nhiên mà có. Tháng 9 năm 2025, trước khi Pháp công nhận quốc gia Palestine, Tháp Eiffel đã được chiếu hình cờ Israel và cờ Palestine cạnh nhau, và Tổng Thư Ký Đảng Xã Hội Olivier Faure kêu gọi các tòa thị sảnh treo cờ Palestine, tới mức Bộ Nội Vụ phải ra lệnh ngăn lại. Bốn tháng trước đó, một bản phúc trình mật về Hội Huynh Đệ Hồi Giáo được đem ra Hội Đồng Quốc Phòng, và Bộ Trưởng Nội Vụ Bruno Retailleau gọi lối xâm nhập của tổ chức này vào các hội đoàn là mối đe dọa cho nền Cộng Hòa.

Bên Anh, cuộc tổng tuyển cử tháng 7 năm 2024 cho thấy sức nặng của khối phiếu tập trung: bốn ứng cử viên độc lập vận động chủ yếu bằng vấn đề Gaza thắng ở những khu đông cử tri Hồi giáo, và một người tuyên bố ngay sau khi hạ một nhân vật trong nội các đối lập: "Chiến thắng này là vì Gaza." Ở chiều ngược lại, sau một mùa hè biểu tình trước các khách sạn chứa người xin tỵ nạn, ngày 13 tháng 9 năm 2025 có từ 110.000 đến 150.000 người, theo ước tính của cảnh sát, xuống đường ở London trong cuộc tuần hành "Unite the Kingdom" do ông Tommy Robinson tổ chức, phần lớn để phản đối di dân.

Ở Đức, tháng 9 năm 2026, AfD về nhất trong hai cuộc bầu cử tiểu bang, với 43,8% ở Saxony-Anhalt và 38,2% ở Mecklenburg-Vorpommern, nơi Đảng CDU của Thủ Tướng Friedrich Merz bị loại khỏi quốc hội tiểu bang. Sáu tuần trước đó, một thanh niên 21 tuổi, công dân Đức gốc Liban từng bị kết án vì tìm cách gia nhập Nhà Nước Hồi Giáo (IS), lái xe lao vào đám đông dự cuộc diễn hành của người đồng tính ở Bá Linh, giết một phụ nữ và làm 29 người bị thương.

Thụy Điển thì bế tắc: phe tả thắng sít sao cuộc bầu cử tháng 9 nhưng chưa lập được chính phủ, và chính Đảng Dân Chủ Xã Hội cũng muốn giữ đường lối di trú cứng rắn của chính phủ trước. Tại hội nghị thượng đỉnh Liên Âu giữa tháng 10, ngày càng nhiều chính phủ đòi được tạm ngưng nhận đơn tỵ nạn khi có khủng hoảng.

Ở các nước Âu châu nhận nhiều di dân Hồi giáo, chuyện diễn ra gần như cùng một lối: di dân tụ thành khu, khu thành xã hội song song, luật pháp thế tục mòn dần, văn hóa va chạm, rồi phe dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy và chính trường phân cực. Suốt quá trình ấy, giới cầm quyền cứ lặp lại câu "đa dạng là sức mạnh", cho tới khi thực tế quay lại hại chính họ.

Trở lại nước Mỹ. Theo ước tính của Pew, số người Hồi giáo ở Mỹ tăng từ 2,35 triệu năm 2007 lên 3,45 triệu năm 2017, và được dự phóng lên 8,1 triệu (2,1% dân số) vào năm 2050. Điều quyết định là họ dồn vào một số tiểu bang và thành phố.

Minnesota có cộng đồng Somali lớn nhất nước, khoảng 107.000 người, nhiều người sang theo diện tỵ nạn. Khu bầu cử Minneapolis đưa Keith Ellison, người Hồi giáo đầu tiên, vào Quốc Hội năm 2006, rồi năm 2018 bầu bà Ilhan Omar, sinh tại Somalia, người nhiều lần bị cáo buộc bài Do Thái và xem nhẹ hiểm họa khủng bố, và tháng 2 năm 2023 bị Hạ Viện loại khỏi Ủy Ban Ngoại Giao. Bên Michigan, Dearborn là nơi người Mỹ gốc Á Rập tập trung đông nhất nước, và bà Rashida Tlaib, người Mỹ gốc Palestine công khai ủng hộ phong trào BDS tẩy chay Israel, bị Hạ Viện khiển trách tháng 11 năm 2023 vì những phát biểu về cuộc chiến giữa Israel và Hamas.

New York có từ 750.000 tới một triệu người Hồi giáo, đông nhất trong các thành phố Mỹ, và tháng 11 năm 2025 đã bầu ông Zohran Mamdani làm Thị Trưởng Hồi giáo đầu tiên. Ngày 10 tháng 3 năm 2026, ông tổ chức buổi iftar đầu tiên ngay trong Tòa Thị Chính, và hình ông cùng khách mời ngồi bệt dưới sàn lan khắp mạng. Bữa ăn Ramadan tự nó không có gì sai. Nhưng ai còn nhớ ngày 11 tháng 9 năm 2001 thì khó mà không giật mình khi thấy cảnh ấy ở biểu tượng quyền lực của thành phố từng hứng chịu vụ khủng bố kinh hoàng nhất lịch sử Mỹ. Đó là dấu hiệu hội nhập, hay dấu hiệu chinh phục?

Quốc Hội khóa 119 có bốn Dân Biểu Hồi giáo, cả bốn thuộc Đảng Dân Chủ; trước năm 2006 chưa có ai. Ảnh hưởng của họ lớn hơn con số: bà Omar và bà Tlaib là hai gương mặt của nhóm "The Squad", cánh cực tả đủ sức ép giới lãnh đạo đảng, và đã đưa chuyện Palestine, việc chỉ trích Israel và quyền lợi di dân Hồi giáo vào giữa nghị trình quốc gia.

Ở cấp địa phương, sự xâm nhập còn sâu hơn. Hamtramck, thành phố nhỏ nằm lọt giữa Detroit, từ năm 2021 có hội đồng thành phố toàn người Hồi giáo. Tháng 6 năm 2023, hội đồng này cấm treo mọi lá cờ tôn giáo, sắc tộc, chính trị trên tài sản công, kể cả cờ đồng tính, làm sửng sốt giới đồng minh cánh tả từng ủng hộ họ nhân danh "đa dạng" và "bao dung". Đảng Dân Chủ đã nuôi một lực lượng chính trị rồi sẽ quay lại chống những giá trị căn bản của chính mình.

Người Hồi giáo ở Mỹ sinh con nhiều hơn, tuổi đời trẻ hơn, lại được tiếp sức đều đặn bằng di dân: theo Pew, khoảng 10% người được cấp thẻ xanh năm 2012 là người Hồi giáo, và ba phần tư người Hồi giáo Mỹ là di dân hoặc con của di dân. Pew dự phóng khoảng năm 2040, Hồi giáo sẽ qua mặt Do Thái giáo để thành tôn giáo lớn thứ nhì nước Mỹ. Và như Âu châu đã cho thấy, khi 15 đến 20% cử tri trong một khu bầu cử bỏ phiếu như một khối, khối ấy quyết định ai thắng ai thua. Chuyện đó đang xảy ra ở Minnesota, Michigan và nhiều nơi thuộc New York, New Jersey, Virginia, Texas.

Phe bênh vực di dân Hồi giáo hay đem so với những làn sóng trước (người Ái Nhĩ Lan, người Ý, người Do Thái, người Hoa) và cho rằng nỗi lo hôm nay chỉ là thói bài ngoại cũ khoác áo mới. Họ bỏ qua một khác biệt căn bản: các nhóm trước rốt cuộc đều hòa vào hệ giá trị Tây phương, từ việc tách tôn giáo khỏi chính quyền tới bình đẳng trước pháp luật, tự do ngôn luận và quyền cá nhân đặt trên quyền tập thể.

Với Tây phương, tôn giáo là chuyện đức tin và lễ nghi. Hồi giáo là cả một hệ thống, din wa dawla (tôn giáo và quốc gia), gồm luật Sharia, phép tắc xã hội, tài chánh, ăn uống, ăn mặc, và một quan niệm chính trị về trật tự thế giới trong đó luật Hồi giáo đứng trên hết. Với tín đồ thuần thành, tách tôn giáo khỏi chính quyền là dị giáo, vì mọi quyền bính thuộc về Allah. Nhiều người Hồi giáo Mỹ sống hòa hợp với nền dân chủ; điều tôi lo là hệ tư tưởng chính thống ấy, vốn chỏi với nền tảng của nền cộng hòa Mỹ. Nó sẽ lộ ra khi cộng đồng đủ đông để khỏi cần hội nhập, như đã thấy ở Anh, Pháp, Thụy Điển và Hamtramck.

Đảng Dân Chủ tự nhận bảo vệ quyền phụ nữ, quyền của giới LGBTQ và tinh thần thế tục, vậy mà kết đồng minh với một cộng đồng có giáo lý truyền thống không chấp nhận đồng tính, đặt phụ nữ vào vai phụ thuộc và coi chủ nghĩa thế tục là kẻ thù. Khó tìm được liên minh nào trong lịch sử chính trị Mỹ nghịch lý hơn.

Đảng làm vậy vì lá phiếu: người Hồi giáo Mỹ nhiều kỳ bầu cho Đảng Dân Chủ trên 70%, tập trung ở những tiểu bang chiến trường như Michigan và Pennsylvania, tổ chức giỏi, và mỗi lúc một ra điều kiện rõ hơn, nhất là về Palestine. Năm 2024, giận chính quyền Biden về Gaza, khối phiếu này bỏ bà Harris: theo cuộc thăm dò của CAIR, chỉ 20% cử tri Hồi giáo bầu cho bà, và ông Trump thắng ngay ở Dearborn.

Mải gom phiếu, Đảng Dân Chủ không thấy, hoặc cố tình lờ đi, rằng mối quan hệ này có tính ký sinh: đảng che chở và mở rộng quyền lợi di trú, còn Hồi giáo chính trị dùng đảng để xâm nhập guồng máy quyền lực, chờ khi đủ mạnh sẽ áp đặt nghị trình riêng.
Hamtramck mới chỉ là hồi chuông đầu tiên.

Đảng Cộng Hòa cứng rắn hơn, nhưng không đủ can đảm và nhất quán để chặn tiến trình này, có lúc còn tự tay mở cửa nhân danh "lòng nhân ái". Một đảng vì lá phiếu, một đảng vì lòng tốt giả tạo, và sự nhu nhược của cả hai là sợi dây thòng lọng đang siết cổ nền cộng hòa.

Nếu không thay đổi chính sách triệt để, tới khoảng năm 2040 số Dân Biểu Hồi giáo có thể lên tám đến mười hai người, còn vị Thượng Nghị Sĩ Hồi giáo đầu tiên có lẽ chẳng phải chờ lâu: ông Abdul El-Sayed, ứng cử viên Đảng Dân Chủ ở Michigan, đang chạy đua sát nút trong cuộc bầu cử ngày 3 tháng 11 năm 2026.

Người Hồi giáo sẽ nắm hàng chục hội đồng thành phố và hội đồng học chánh, và những đòi hỏi "tôn trọng văn hóa" sẽ thành luật lệ: thực phẩm halal trong trường công, ngày lễ Hồi giáo thành ngày nghỉ (trường công New York đã nghỉ lễ Eid từ năm 2015), giờ bơi riêng cho phụ nữ. Bước nào đứng riêng cũng nghe hợp lý; gộp lại thì nước Mỹ đã thành một nước khác.

Từ 2040 tới 2060, với khối phiếu Hồi giáo đủ lớn ở năm bảy tiểu bang, ứng cử viên Tổng Thống nào cũng phải lấy lòng cộng đồng này, và điều kiện sẽ mỗi lúc một cụ thể: đổi chính sách ngoại giao ở Trung Đông, dùng luật chống "lời lẽ thù hận" để chặn việc phê bình Hồi giáo, lấy công quỹ tài trợ các tổ chức Hồi giáo, mở rộng di dân, rồi công nhận một phần luật Sharia trong luật gia đình.

Từ 2060 tới 2075, nếu đà tăng giữ nguyên, số người Hồi giáo ở Mỹ có thể lên 20 đến 30 triệu, chỉ 5 đến 8% dân số nhưng dồn vào 15 đến 20% số đơn vị bầu cử. Tới mức ấy, không còn xoay ngược được nữa: Liban, Ai Cập, Mã Lai Á đều cho thấy khi Hồi giáo đạt tới một tỷ lệ dân số nào đó, bản chất chính trị của xã hội đổi theo và không quay lại.

Nếu nước Mỹ không rút bài học từ Âu châu và hành động ngay bây giờ, 50 năm nữa nền cộng hòa lập hiến mà các Nhà Lập Quốc dựng trên những giá trị Khai Sáng sẽ chỉ còn là ký ức.

Vận mệnh một quốc gia rốt cuộc được định bằng những con số rất đời thường: ai đông con hơn, ai nhập cư nhiều hơn, ai đi bầu có kỷ luật hơn. Tính theo những con số ấy thì Hồi giáo đang thắng, còn nước Mỹ vẫn ngủ.

AnhMinh Nguyen(813) 570-0122
(VACA)

Discover more from Vietnamese-American Conservative Alliance (VACA)

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading